Tìm kiếm Blog này

Nguyễn Văn Thà - Vương Quốc của Hoàng Gia Hoa

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Kính tặng anh Phạm Phú Minh.

Lời giới thiệu bức tranh từ máy huớng dẫn cá nhân: Bức tranh này được gọi là ”Vương quốc của nữ thần Flora”, của Nicolas Poussin (1594-1665),Ý, còn được gọi là ”Primavera: Mùa xuân” ngay từ năm 1631. Chính Poussin khẳng định đề tài mùa xuân khi ông gọi bức tranh là ”un giardino di fiori: Vườn hoa”. Thực vậy, trong tranh xuất hiện Apollo (thần mặt trời, thi ca, chân lý…) cỡi xe tứ mã trên trời, Flora (nữ thần hoa, nữ thần mùa xuân) đứng giữa và Pripaus (thần của phì nhiêu ruộng đồng và của nam sinh thực khí, trong các tranh tường cổ người ta hay vẽ ông với sinh thực khí dài quá khổ và lúc nào cũng căng cứng) nền sau bên trái bức tranh, dưới hình thức tượng đá. Sự xuất hiện trong bức tranh của ba vị thần, cùng với những con người khả tử trong tranh, lấy từ tác phẩm ”Hoá thân” của Ovidius; những sinh linh khả tử này sẽ biến thành hoa; và tất cả hoa, người, thần thánh xuất hiện theo từng mùa. Với đôi môi mỉm cười trong khi nhảy múa, Flora tượng trưng cho lực tái sinh của thiên nhiên. Phong thái hân hoan của nàng tương phản lại bầu khí bàng bạc buồn nơi các sinh linh khả tử bao quanh nàng.
Sự quyến rũ và sự phong phú của đề tài bức tranh nằm nơi sự tương phản giữa sự chết và niềm hi vọng vào sự tái tạo. Apollo, cũng thế, tượng trưng cho sự sống từ mặt trời nóng ấm. Và trong những thoại ngôn trong tác phẩm trên, tuy Ovidius bề mặt nói về sinh linh khả tử, nhưng vẫn ngụ ý chuyện tái sinh mỗi năm. Người đứng bên trái, phần trước bức tranh là Ajax đang hấp hối khi anh ta ngã vào lưỡi gươm của chính mình. Anh ta tự sát sau khi bị thua Ulysses, vua đảo Icatha, trong một cuộc tranh luận. Kế đến là Narcissus đang quì ngắm bóng mình trong chiếc bình đầy nước. Anh chàng quá yêu mình, vui thích ngắm những cái tuyệt vời, tuyệt kỹ của mình trong làn nước phù du, vô nghĩa của đời này. Những tài năng, vẻ đẹp chẳng qua chỉ là hơi nước, chỉ là bóng, chàng tất sẽ biến thành hoa narcissus (thuỷ tiên); rồi hoa cũng thành phù hoa, vô dụng mà thôi. Phía sau Narcissus là nàng Clytie đang yêu đơn phương thần Apollo và đang đăm đắm nhìn thần Apollo đang rong ruổi trên trời. Clytie được biến thành hoa heliotrope (thiên giới); nàng thoạt đầu được Apollo yêu, và nàng cũng yêu Apollo - nghĩa là yêu sự minh trí -, nhưng rồi bị Apollo bỏ; nàng tượng trưng cho những kẻ yêu minh trí một cách mê muội, nên cuối cùng bị chính minh trí ruồng rẫy. Kế đến, cạnh Narcissus là nàng Bellori tượng trưng cho sự bất tử hay tượng trưng cho những vẻ đẹp của linh hồn, có học giả còn gọi nữ thần nầy là thần Echo bị phạt kêu vang vọng chính tiếng mình trong tuyệt vọng ngàn đời. Kế đến, ở giữa bức tranh, là nữ thần Flora, rồi kế đến là Hyacinthus, chàng rủi bị trúng thương mà chết bởi chiếc đĩa thần Apollo ném trong một cuộc so tài. Hyacinthus tượng trưng cho những kẻ trở thành nạn nhân của những đam mê của mình, khi cả gan dám thi thố với thần thánh, và biến thành hoa hyacinthus (võng tín tử). Đứng cạnh, bên phải Hyacinthus là Adonis đang nhìn vào vết thương gấu cắn. Adonis là nạn nhân của sự hợm mình dám yêu thần Venus. Adonis bị biến thành hoa adonis (trắc kim trản) vì chàng tuổi trẻ tuy đẹp trai nhưng tính tình phù phiếm, và sức khoẻ yếu ớt mà lại yêu người đàn bà lớn hơn, mạnh hơn, rồi cuối cùng bị giết vì chuyện ghen tuông. Adonis biến thành loài hoa adonis mau tàn. (Ovidius, trong tập thơ kể trên, lại kể là Adonis biến thành hoa anemone (thu mẫu đơn), cùng họ với hoa adonis.) Cuối cùng phía trái phần trước bức tranh là nàng Similax và chàng Crocus. Đôi tình nhân yêu nhau quá cuồng say, nên chẳng sống được lâu để mà yêu đương, rồi biến thành hoa similax (bát khiết) và hoa crocus (phàn hồng). Sabaeus viết: ”Ai đi hái hoa trong đồng sẽ nhận ra hai thứ hoa  tử hồng) an hương). này ngay vì chúng có lửa. Xưa cháy bỏng khoái lạc, nay thơm nồng thơm nàn.” 
*** 

Thuận Tín là một giáo xứ nằm trên dọc bờ biển chạy theo quốc lộ 1. Giáo dân đã mang theo từ miền Bắc vào cái tên của giáo xứ xưa cùng với những truyền thống cần cù, đạo đức, lễ nghĩa, hiếu học - đôi gia đình mang theo cả những hoành phi chữ Nho - và cả những nhan sắc. Họ chăm sóc những mảnh ruộng, miếng rẫy kỹ càng như chăm sóc vườn cảnh. Họ có cuộc sống no ấm, và đẹp đẽ với những vườn hoa trái, hoa nhiều hơn cây trái, những khu vườn khép kín niềm riêng. Lời kinh và hương hoa và lòng thành kính thấm đẫm những chiều hôm. Những người đàn ông ôm niềm tin trong vạt áo dài thâm đến nhà thờ; những nàng thanh xuân tà áo màu lộng gió thánh ca. Gần xứ Thuận Tín, nằm sát bìa rừng là một xóm, mà người trong giáo xứ gọi là ”xóm người địa phương”, ”xóm người Nam”. Họ là những người định cư từ lâu đời, nghe đâu từ thời Minh Mạng, khi ông vua này bắt tội tổ tiên họ vì tội phản loạn, tổ tiên họ dắt díu nhau lên thuyền đi trốn từ miền Bắc và tình cờ trôi dạt vào đây. Họ ở gần rừng cho củi đun, gỗ làm nhà, gần biển cá mú có sẵn, và có nhiều đất bằng có thể làm ruộng lúa nước và có cả những rẫy đất thịt pha cát để làm rẫy trồng lúa khô, khoai lang, dưa hấu. Họ có một cuộc sống no đủ, nhưng không giàu, hay họ không muốn làm giàu, vì lẽ thường làm giàu cũng mệt; chịu khó không phải là phẩm tính của họ. Và họ cũng không có nhiều thời giờ một khi họ được thiên nhiên ưu đãi như thế vì họ dành thời giờ của họ cho những chuyện dễ dãi, lười biếng: đàn ông chưa buông cày đã tính chuyện nhậu nhẹt, hay buồn buồn nhảy vào rừng làm ”cách mạng” có người tiếp tế, rồi lâu lâu về làng về xóm giật cầu, đắp mô quậy chơi, nhân thể chích bà xã có bầu; đàn bà ngồi lê ăn hàng ăn quán là một nhu cầu thường xuyên; con cái họ bỏ thây kệ. Xóm không có một ngôi chùa nào gần đó, để chùa là cái thiện cho xóm, không có một vị sư nào cho họ kính cẩn và từ đó đôi khi soi lại mình. Đôi nhà có bàn thờ Phật và thờ ông bà, những bàn thờ nhếch nhác, bụi bặm; tượng Phật mất hết màu trong khung sắp rã, hình ông bà cũng vậy. Nói họ là những người hoang dã không phải là không đúng. Gần như là tự nhiên chuyện đàn ông vợ hai, vợ ba, và đàn bà chung chạ ông này, ông kia không phải là chuyện phải chịu phạt cắt tóc bôi vôi. Nói tục, nói tĩu nằm sẵn nơi cửa miệng, cả nơi con nít. Và chúng hỗn hào. Chúng không đi học, hoặc học hết bậc tiểu học là một cố gắng phi thường.

Sau 1975, hay nói chính xác niên khoá 1976 –1977,  Trí, thay vì xung phong như các bạn cùng trang lứa muốn làm một cái gì đó cho đời như đi thanh niên xung phong làm thuỷ lợi, khai hoang, anh lại xin vào ngành dạy học và được điều về dạy học ở trường cấp một xã Hàm Cần, và vì ở xa, tận Sài Gòn, nên được cho ở một mình trong trường, trong một nửa căn phòng dùng làm văn phòng. Trường vốn là trường của giáo xứ Thuận Tín nên được xây cất cạnh nhà thờ, và rộng rãi, vững chãi, không như các trường công lập khác. Trường nấp bóng dưới những tàng cây phượng đỏ và những cây điệp hoa vàng. Cây đủ lớn để thắp hi vọng tràn trề quanh năm: xanh màu lá, đỏ hoa phượng, vàng điệp hoa; tàng đủ rộng để toả bóng che mát những em bé nhảy dây, nhảy cò cò, chơi ô làng những buổi trưa nắng gắt, và đủ rậm để ve trú ri rỉ buồn buồn như tự muôn kiếp vọng về; những buổi trưa như thế đưa Trí về những ngày an ổn ngày xưa dù những ngày xưa ấy Đất Nước còn đang trong chiến tranh. An ổn trong lòng người và an ổn trong từng trang sách học. Trong những trang sách ấy những con ong bay đường tìm mật; những cái kiến vòng vo đường thóc hạt; những hạt củ khoai tròn căng, bát cơm trắng ngọc Trời; những con số chưa cõng thêm những thây người; những mẫu tự chưa móc thêm búa, liềm, mìn, bẫy. Cái giáo xứ ấy, ngôi giáo đường này dường như vẫn còn giữ được cho con chiên mình niềm an ổn đó. Người ta cảm nhận được điều đó khi chuyện trò với họ: những người lớn, những em bé. Có những trưa, nhiều buổi trưa, Trí thích ra sân trường ngồi xem các em bé đến chơi và nghe chúng nói. Và Trí thấy người lớn vẫn lễ nghĩa rất mực, nụ cười luôn trên môi khi gặp Trí. Những loa kèn, cờ quạt, khẩu hiệu trở nên buồn cười, thậm chí trơ trẽn trước tâm cảnh như thế. Nơi đây bình tâm vẫn ngự trị dù cuộc sống đã khó khăn lắm rồi, như những trụ điện gỗ thông tẫm dầu vững chãi, uy nghi đã từng mang ánh sáng về đây,nay chỉ còn là những thân cây khẳng khiu chơ vơ tội nghiệp trong cuộc thế đã chìm vào bóng tối. Có một cái gì đó vừa trong vừa trên họ, một cái gì đó thật ấm áp. Còn Trí, đời chàng lúc đó như một tấm trò chơi lắp hình, đang rối bời trăm mảnh và chàng khó mà tự mình ghép lại bức tranh đẹp mà chàng mơ ước khi bước vào đời. Nhưng trong mắt giáo dân trong giáo xứ, thầy Trí hiệu phó, vẫn là một người đáng gườm như bất cứ cán bộ nhà nước cộng sản nào, dẫu học trò trong giáo xứ vẫn gọi Trí một cách vui vẻ là ”thầy Trí Sài Gòn đẹp trai” để phân biệt với một thầy Trí khác người ở xã, dạy cùng trường nhưng không đẹp trai chút nào.
 *** 
Con Thuý, tám tuổi, hay đến chơi với bạn dưới cây phượng cạnh văn phòng trường, nơi Trí đang ở một mình. Có khi nó chỉ đến một mình. Con nhỏ lúc nào cũng ăn mặc sạch sẽ, đẹp đẽ: áo bà ba lụa công nghệ trắng bóng, cắt khéo, quần xa tanh đen láng được ủi kỹ lưỡng, gót chân còn son trong đôi dép hồng, mặt hoa tươi sáng. Một đoá hồng giữa đám luộm thuộm con nít. Mấy thằng nhóc, nhất là mấy đứa ”địa phương” bắt đầu cặp đôi cặp lứa con nhỏ với thằng nọ, thằng kia. Mỗi lần như thế nó lại, nếu có Trí ở đó,  nhìn Trí cầu cứu. Trí hay ra với đám trẻ, nhìn chúng chơi đùa, hỏi han chúng nó, đôi khi chơi với chúng những trò chơi được. Thỉnh thoảng Trí chơi ô làng; thắng những đứa khác vài ván, nhưng bao giờ cũng thua Thuý. Những đứa khác cũng thua Thuý. Con nhỏ có thể tính trước là sẽ ăn ô mập nào nó muốn. Đôi khi có đứa bảo là Trí giả thua vì thầy làm sao thua trò được, mà lại thua cái con Thuý. Có thằng ”dân người Nam”còn bạo miệng, nói là ”tại vì thầy Trí thương con Thuý.” Con Thuý lúc đó đang học lớp hai, ngơ ngác chẳng hiểu gì. Trí mắng tạt: ”Mầy nói tầm bậy!” Thằng nhỏ cười khì khì rồi chơi tiếp. Mẹ của Thuý là chị Hoa. Chị Hoa là một trong tám người vợ chồng bị tử trận cùng một lần khi đồn địa phương quân gần giáo xứ bị thất thủ vào Tết Mậu Thân 1968. Tám quả phụ đều đẹp và đạo hạnh ở trong một giáo xứ nổi tiếng nhiều đàn bà đẹp, và đạo hạnh là một điều đương nhiên, do đó, chuyện ở vậy thờ chồng, nuôi con cũng là lẽ tự nhiên. Họ làm rẫy làm vườn hay buôn bán nhỏ ngoài chợ, chăm sóc con cái, đi nhà thờ sáng tối, hát trong ca đoàn, tham gia các hội đoàn trong xứ. Các chị ấy lúc nào cũng nụ cười; người ta không thấy nơi họ những dấu hiệu của uẩn ức mà trong sách các tác giả Tây phương thấy hay đề cập. Dường như văn hoá ngàn đời xứ Việt và đạo lý Kytô giáo thấm đẫm nhuần nhuyễn nơi những giáo dân ở đây, và rõ nhất nơi những người đàn bà như tám goá phụ trẻ, đẹp. Công, dung, ngôn, hạnh hội đủ nơi họ. ”Hãy yêu thương chồng mình như Chúa Kytô yêu Giáo Hội.” Chồng chết thì thờ chồng, nuôi con là điều không có gì đáng bàn cãi. Ở nơi họ, tình yêu là có thật.

Chưa hết mùa nắng, Trí đâm thương con Thuý thiệt dù Trí đã trợn mắt mắng cái thằng cà chớn hôm đó. Anh thích chơi với nó nhiều hơn và đâm nhớ nó những khi nó không đến chơi. Anh bắt đầu nghĩ tới tương lai của nó: Nó sẽ làm gì khi học xong cấp một ở đây, và trường cấp hai cách quá xa làng làm sao mà đến trường hằng này, rồi nó có được học lên cao không ngay cả trong trường hợp mẹ nó có sức cho con học tiếp? Cái áo, cái quần đẹp con Thuý mặc, gót son da mỏng, khuôn mặt hoa của Thuý đang ở trước vực thẳm há mồm đang chực nuốt chửng như nó đã và đang nuốt chửng tất cả, kể cả những cái hạnh phúc, êm ấm, tiện nghi bình thường khác. Đó là chưa nói đến chuyện lý lịch: Ba nó là trung uý trưởng đồn đã chết tám năm.

Con Thuý đến chơi và thỉnh thoảng bưng đến cho Trí khi thì ly nước chanh đường, khi thì chén chè đá, lát dưa hấu lạnh, và bảo là mẹ biểu đưa cho thầy uống cho mát, ăn cho vui. Trí nghĩ đây chỉ là những hình thức cảm ơn kín đáo khi mẹ Thuý biết Trí tỏ ra quan tâm đặc biệt tới con gái nhỏ của chị, nhất là thời gian sau này khi Trí kèm thêm toán cho Thuý. (Thực sự, những năm sau bảy lăm, chẳng có gì đáng học ngoài toán, dù rằng những con số phải mang theo những thứ mà đầu óc con trẻ không thể hiểu được.) Lúc đầu, tất cả những sự giúp đỡ ấy chỉ là tự phát, nhưng dần dần Trí thấy rằng chúng như những che chắn của mình dành cho Thuý, một con Thuý có quyền đòi xã hội mà nó được sinh ra phải cung hiến cho nó những phương tiện để nó đạt được những thành công xứng đáng với số vốn khá lớn của nó may mắn được Trời cho. Than ôi, những người cầm đầu của cái xã hội ấy còn đang hô hào đội đá vá trời làm gì có sức ngó ngàng đến những mảnh đời bé nhỏ trong ngôi làng đìu hiu như làng con Thuý hiện nay.
Trí đang ngồi trên ghế chơi nhạc ghi ta cổ điển trước hành lang trường trưa vắng vẻ, tới lúc rung dây réo rắt một khúc flamenco, thì mẹ Thuý, chị Hoa, đến. Tôi sẽ tả về nhan sắc của nàng buổi trưa hôm đó sân trường, cho đã thèm, nếu không có những giòng thơ sau đây Luân Hoán hiện lên trong trời trong theo bước chân nàng:

Trưa đầy nắng đẫm dưới chân
áo nghiêng vạt rớt bóng gần bước hoa
má thơm ánh sáng chan hoà
thời gian nhường bước em qua sân trường

Tinh khôi một thỏi vàng ròng
áo trắng khó bọc kín lòng thanh xuân
bàn tay nắm mở ngập ngừng
mắt môi chúm chím phơi từng nhịp tim
nếu được quyền chọn của riêng
Hoàng Hoa công chúa rước nguyên về triều

Trí ôm đàn, đứng bật dậy, từ cơn mơ vũ nữ nhảy flamenco váy đỏ xoè tung đam mê dưới mặt trời đỏ xứ Tây Ban Nha vào cơn mộng tiên dung giữa trưa nắng loá làng quê xứ Việt; chàng lắp bắp:
- Chào chị…
Hoa mỉm cười môi son:
- Xin chào thầy. Thầy chơi đàn hay quá.
- Chị là người đầu tiên khen tôi đánh hay. Mà chị đây là…
- Tôi là Hoa, Hoàng Gia Hoa, mẹ của em Thuý, Hoàng Phỉ Thuý.
Trí cười:
- Nghe chị xưng tên chị và tên con chị, tôi cứ tưởng tôi đang sống trong vương triều cũ.
- Tên của ông nội tôi, một nhà Nho, đặt cho.
- À, tôi nhớ ra rồi. Hình như ”phỉ thúy” là chim bói cá. Thầy giáo dạy Việt văn của tôi hồi trước giải thích như vậy.
- Vâng, đúng vậy. Và ông nội tôi bảo là con chim bói cá dạy ta phải biết kiên nhẫn và khi cơ hội đến là chụp ngay.
Trí cười:
- Con Thúy hiền lành thủng tha thủng thỉnh như thế kia mà chim bói cá sao được! Nhưng chị có được một đứa con gái rất thông minh.
Thúy cũng cười rồi nói:
- Thầy quá khen cháu… Và thưa thầy, hôm nay tôi đến để cảm ơn thầy đã giúp đỡ cháu Thuý. Cháu nói cháu rất vui khi được gần thầy giúp đỡ.
- Được gần những em bé như Thuý cũng là niềm vui của tôi. Có điều càng gần gũi, giúp đỡ nó tôi càng thấy tiếc cho nó. Tôi nghĩ nơi đây không phải là  nơi cho nó phát triển đầy đủ, ít là sau khi học hết cấp một.
- Cha mẹ ai ở đây cũng nghĩ về con cái mình như vậy, nhưng không làm được gì cả, thầy ạ.

Tiếng ve lại ri rỉ trong tàng cây. Đôi con chim sẻ loách choách lơ ngơ đầu hành lang se gió. Hoàng Gia Hoa công chúa nhàn nhạt muộn phiền. Trí khom người ngó lung những cọng cỏ khô loay hoay không biết nên bay đi hay nên nằm tại chổ trên sân trường. Nàng và chàng chìm vào vu vơ trong trưa nắng bơ vơ. Nhưng rồi nàng lại tươi tỉnh:
- Thôi em về, để thầy còn chơi đàn.
- Không sao đâu chị.
- Dạ, vả lại, chốn trường ốc, ngồi lâu không phải phép. Thầy cho em kiếu…Nhà em có cây đàn ghi ta classic khá tốt, đã tám năm nay không ai chơi, mời thầy qua chơi thử. Và con Thuý tất nhiên sẽ sẽ rất vui. - Nàng vừa nói vừa liếc Trí, cầm nón, toan đi thì bỗng có cái thằng người xóm địa phương từ đâu không biết chạy vào sân với đám bạn cùng xóm; nó reo lên inh ỏi: ”Thầy Trí thương má con Thuý tụi bay ơi!”
Chị Hoa đưa tay ngà che miệng son mỉm cười, đội chiếc nón lá bài thơ ửng nắng, quay lại liếc Trí lần nữa qua vành nón nghiêng, rồi mới quay đi. Trí đâm hoảng đóng cửa phòng. Đám con nít người địa phương bắt đầu chơi đánh khăng, cãi nhau chí choé, như thể câu nói vừa rồi là một câu nói bình thường, nói xong rồi thôi, nhưng khi Trí ngã mình xuống giường, nằm mơ màng nghĩ ngợi được một lúc thì có tiếng của cái thằng lúc nãy: ”Má con Thuý chắc vừa lẹo xong. Con mẽ đã đi về còn quay lại liếc thầy Trí sắc lẻm.” Cả bọn cười rầm cả lên. May không có con Thuý.

Cái chuyện lẹo, nghe ra thô bỉ từ miệng thằng nhỏ chăn trâu hôm đó, hay còn gọi là chuyện ân ái có vẻ văn minh từ miệng những người lịch sự, cuối cùng, đã xảy vào một đêm trăng kỳ ảo, sau những bản đàn ướp nồng thêm lời tình tự, dưới dàn hoa lài, trên lớp rơm lúa mới, trong vườn hoa cỏ nàng. Phần trên thân thể Hoa nồng ấm dâng hương Chanel sang cả, mùi rơm lúa mới, hương hoa lài trở nên rụt rè, tội nghiệp; môi son thơm và mùi kẹo cao su Mỹ thơm bạc hà từ hàm răng, chiếc miệng đã được đánh sạch; phần dưới, thân thể thuôn thả, nuột nà, trắng huyễn hoặc và thơm thơm mát rượi xà bông Camay cũng của Mỹ. Có cần nhắc lại đây cho tới thời điểm đó, trong Đất Nước này, man rợ từ núi rừng tràn về, và đã trở thành mẫu mực cho mọi người phấn đấu noi theo, và đầm lầy tanh hôi đã lan tận mọi ngõ ngách? Muốn đánh giá một nước văn minh hay man rợ, hãy xem sản phẩm làm đẹp phụ nữ của nước đó. Trí đang ôm Hoàng Hoa trong tay, ôm cả một nền văn minh luôn luôn cố gắng tô chuốt, ướp thơm người phụ nữ. Chàng muốn ôm Hoa mãi, cho qua đời khốn khổ, khốn nạn trước mắt, và biết rằng những cái đẹp, cái thơm rồi sẽ bị cái tàn bạo, cái thô bỉ trường kỳ hãm hiếp đến tàn đến mạt. Rồi cũng đến lúc gà gáy sáng, đám ngư phủ lục tục gánh lưới, vác chèo ra biển, tiếng những cô gái làng ơi ới vui mừng gọi nhau đi sắp hàng sớm cửa hàng mậu dịch quốc doanh mua vài lít dấu hôi tiêu chuẩn, vài hộp quẹt, vài trăm gram đường, vài thước vải đồng loại, đồng màu. Đâu mới hai giờ sáng. Rồi tiếng loa thành tích vinh quang. Giọng ngoa ngoét, dai nhách của con mẻ Bắc Kỳ quốc hai mươi năm chiến tranh tới nay vẫn chưa buông. Tất cả như những viên đạn bắn vỡ tung chiếc bong bóng thiên thai trú ẩn của họ. Lại phải quay về với cõi thế tù lớn lạnh tê, nhớp nháp.

Dĩ nhiên tối sau Trí lại đến. Rồi những tối sau của những tối sau. Nhưng vào một tối hạ tuần, Trí đến, Hoa quần áo chỉnh tề ngồi chờ Trí bên chiếc bàn có đèn dầu ám khói (vì là dầu quốc doanh Liên Xô) nơi gian giữa. Trí hôn Hoa và tay bắt đầu ve vuốt Hoa, nhưng nàng giữ tay Trí lại, rồi hôn nhẹ lên trán chàng, và nhìn trước nhìn sau, nói thầm:
- Em yêu anh, yêu rất nhiều, còn anh?
Trí như đứt hơi:
- Anh yêu em, anh yêu em…
- Cảm ơn anh. Anh rất hạnh phúc được anh yêu, và em cũng yêu anh, nhưng chúng ta không thể mãi như thế này…
Trí hổn hển:
- Thì anh cưới em, thì anh lấy em – và nhìn lên bàn thờ - Anh sẵn sàng theo đạo em… dù cho tới bây giờ anh không theo đạo nào…
- Anh nói nhỏ lại, kẻo…
- Kệ, ai nghe cũng không sao.
- Mà không phải chuyện đó?
- Vậy chuyện gì.
Nàng lại nhìn quanh, rồi cầm tay Trí, nói càng nhỏ:
- Anh không thể chôn vùi mãi cuộc đời ở đây.
- Mà anh đã có em…
- Anh để cho em nói hết ý.
- …
- Anh phải kiếm đường mà đi. Em có ba lạng vàng. Em sẽ kiếm cách giúp anh thoát khỏi nơi đây.
Trí sửng sốt. Xác thịt những đêm trước tưởng đã đủ để khẳng định được tình yêu, nhưng ba lượng vàng vào lúc đó, nơi xứ sở đã trở thành nghèo mạt này, từ người goá phụ này, là một bằng chứng tình yêu chung thuỷ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Và vào những năm đầu sắt máu đó không ai nghĩ là vượt biên sẽ có ngày đoàn tụ; mọi người dồn tình thương cho người ra đi, chỉ vì thương. Trí ôm chặt lấy Hoa, nói như nghẹn:
- Em thương anh tới mức đó sao! Còn em và con Thuý thì sao?
- Em không đủ vàng để chung cho cả hai mẹ con. Và nhất là em sợ. Sóng gió bão tố đã khó lường, thân đàn bà con gái dặm trường biển cả còn khó lường hơn. Em nghe đài BBC nói là hải tặc Thái Lan đang hoành hành trên biển Đông cướp của, hiếp đàn bà con gái.
- Thì đàn ông chúng nó cũng đâu có tha!
- Nhưng đỡ hơn… Anh hãy tìm con đường sống để sống cho ra con người. Qua đó mà học cho thành tài. Phải liều cưng ạ!
- Anh phải bỏ em, bỏ con Thuý mà đi sao?
- Anh không đi, thì không bỏ cũng như bỏ. Ở đây không ai lo được cho ai cả.
- Ừ, mà để anh suy nghĩ.
- Không còn nhiều thời gian để suy nghĩ nữa đâu. Em kiếm sẵn mối rồi. Chờ tuần sau tối trời, là đi. Và anh này, từ đêm nay anh đừng đến đây nữa, lỡ có chuyện ruồi bu không đâu làm hỏng việc lớn.
Trí ôm chặt Hoa như ôm thánh nữ đồng trinh.

Trí đi được. Nhớ tới Hoa với niềm kính cẩn, và càng kính cẩn nỗi nhớ xác thịt càng lâng lâng thống khoái. Qua tới được Na Uy, hỏi han, Trí mới biết được Na Uy vốn là nước ủng hộ Việt Nam Cộng Sản trong thời kỳ chiến tranh, nên chuyện bảo lãnh là chuyện có nhiều hi vọng hơn là ở Mỹ. Trong một bữa chuyện trò với anh tổ chức chuyến đi và nhân thể nói đến chuyện Trí tính bảo lãnh Hoa và con gái, anh chàng cười khì khì:
- Trời đất, ông với bã chưa cưới nhau, chưa có giấy tờ hôn thú mà bão lãnh cái nỗi gì!
- Làm giấy tờ giả đâu phải là chuyện khó ở Việt Nam.
- Biết rồi!
- Rồi sao?
- Chuyện ông, kệ ông, chơ chuyến đi tàu mình, bãi đáp an toàn cũng nhờ bã.
- Là sao? Anh nói, tôi chưa hiểu.
- Mỹ nhân kế!
-…
- Hôm mình đi, bã mời thằng tổ trưởng công an biên phòng về nhậu thâu đêm. Bã bốc như vậy lại còn nước hoa Pháp, miệng thơm thơm sinh gum bạc hà Mỹ. Thằng đàn ông sành đời nào cũng phải gục, huống chi cái thằng cán ngố đó.
Trí tái mặt.
- Xin lỗi Trí, sự thực là chuyện đó nằm trong kế hoạch. Bã cũng là người nằm trong tổ chức vượt biên tàu mình. Khi tôi nêu lên kế hoạch mua bãi, bã gạt ngang là mua bãi nguy hiểm, vừa không chắc, vừa tốn mấy chục cây vàng. Để bã lo cầm chân thằng cha tổ trưởng công an biên phòng. Chắc chắn thắng, tui nhớ nguyên văn bã nói vậy. Bù lại chia cho bã 10 cây tiền mua bãi, với lại cho bã gởi thằng em trai, hoá ra thằng em trai là ông.
Trí choáng váng. Anh chủ ghe cười lớn:
- Cả nhà tôi đi hết trọi. Chắc ăn quá mà; bốc cả nhà luôn. Bã ngon cơm lại thêm cái ngón Chanel số 5 với sing gum bạc hà Mỹ thì chịu gì nổi!
Nhưng có một cái gì đó ghìm lại không cho Trí nghĩ bậy, huống chi nói bậy, về Hoa dù có những dấu chỉ buộc Trí nghĩ như thế, như một tín hữu không thể bỏ đi niềm tin về Chúa dù cũng có lúc có những nhà chú giải kinh thánh, những thần học gia, những nhà khảo cổ địa danh kinh thánh nào đó đưa ra những lý luận, những bằng cớ phủ nhận những niềm tin cố cựu. Không phải là không dám, hay vì thói quen tin kính, nhưng có một cái gì đó trên họ chế ngự họ. ”Cái gì đó” hình như là tình yêu, tình yêu quá lớn, lớn tới độ ngăn được mọi nghi ngờ và đưa họ về với vũng tối niềm tin dịu êm.

Trí nhớ tới lá thư đầu tiên Hoa gởi cho Trí bên đảo. Không thấy một giòng thương nhớ nào. Chỉ nói là mẹ con Hoa vẫn mạnh khoẻ. Hoa còn khuyên Trí xác định lại là ”mình muốn gì” và nhớ lo học hành ngay trên đảo, và đừng lo lắng cho mẹ con Hoa. Và nói con Thuý rất nhớ thầy Trí và mong ngày gặp lại thầy để chơi ô làng. Thư sau tuyệt nhiên cũng không nói gì tới kỷ niệm yêu dấu giữa hai người, chỉ kể nay Thuý học rất chăm chỉ, càng ngày càng xinh ra. Những thư sau sau này nhận được ở Na Uy nói là Thuýđã học xong cấp một và Hoa đã gởi Thuý trọ nhà bà cô trên thị xã cho nó học, và học thêm toán, và học thêm tiếng Anh với một anh ngày xưa làm thông dịch cho cố vấn Mỹ, và Thuý học rất giỏi. Những thư sau cũng đại loại như thế, có khác là có hình của Thuý, hình màu. Trí viết thư muốn hẹn giờ để Thuý vào Sài Gòn điện thoại cho chàng nhưng Hoa trả lời là gọi điện thoại tốn nhiều tiền và rằng viết thư thì tâm sự dễ hơn. Xoay đi xoay lại đã hơn mười năm. Ngày qua tháng lại, có tin tức là chính phủ Việt Nam Cộng Sản bắt đầu đổi mới; chuyện đoàn tụ sẽ dễ dàng hơn. Bắt đầu có người có gia đình qua. Việt kiều rủ nhau về nước. Trí đâm hoảng và hối hận khi lên đảo không khai ngay Hoa là vợ và Thuý là con của hai người. Chuyện giá thú giả đâu phải là chuyện khó ở Việt Nam. Trí bèn viết thư bảo chàng sẽ về cưới Hoa rồi làm giấy tờ đoàn tụ. Hoa viết thư trả lời là Trí hãy quên chuyện yêu đương cũ, vì đó là ”chuyện chẳng đặng đừng”, và Hoa không thể bỏ mồ mã chồng mà đi, và Thuý nay đã 18 tuổi, được học hành chuẩn bị đàng hoàng, vậy Trí hãy làm ơn bảo lãnh Thuý qua như diện vợ chồng giả cũng được, thiệt thì càng hay, vì Thuý vẫn nhớ người thầy cũ đáng mến ngày xưa của mình và kèm theo là tấm hình mới nhất chụp Thuý mặt hoa đẹp như mặt hoa của Hoa nhưng tươi tắn hơn nhiều, mặc áo dài đỏ, chân dài quần trắng mướt,vừa đứng rướn người nghiêng trời xanh, cạnh cây hoa phượng trường xưa đang đỏ rực hoa, vừa đưa mắt nhìn lên trời trong nắng hạ, rồi còn xoè bàn tay muốt dài không biết đang hứng hoa phượng rơi hay hứng những giòng thơ mới nóng bỏng Luân Hoán gieo cho nàng như đã từng gieo cho mẹ nàng. 
***
Thuý và Trí năm nào cũng đi nghỉ hè với mấy đứa con. Những kì nghỉ kỳ thú thường ở những nơi có bãi biển, có nắng ấm để lũ trẻ có dịp tắm biển, tắm nắng bù lại chín tháng từ lành lạnh tới cực kỳ lạnh ở Na Uy. Nay chúng khá lớn, đôi khi không thích đi với ba mẹ nữa, Thúy nhờ những người hàng xóm tốt bụng trông chừng giùm, và hai vợ chồng lại đi du lịch với nhau và thích đến những thành phố lớn, không nhất thiết có biển, nhiều nắng, nhưng có các viện bảo tàng lớn để xem. Thu năm nay, còn hai tuần nghỉ chưa dùng, Thuý và Trí nhận được điện thư anh bạn Nhân mời qua Berlin chơi. Mùa thu Berlin đẹp không ngờ và con người cũng nhã nhặn lịch sự không thua gì anh Nhân, người ở Đức đã lâu, thấm nhuần văn hoá Đức tới độ cứ sợ khi chết, cõi bên kia không có tuần báo Der Spiegel để đọc, nhạc Beethoven để nghe. Anh hướng dẫn hai vợ chồng đi thăm những danh lam thắng cảnh ở Berlin và những vùng phụ cận: cổng Brandenburg đẹp đơn giản mà uy nghi, vững chải như những chiếc xe mà họ sản xuất; khu tưởng niệm Do Thái, những khối bê tông như những ngôi mộ chập chùng, có vẻ lộn xộn, nhìn lâu gây chóng mặt, nhìn lâu hơn nữa thấy chúng như lớp lớp trại tập trung, nhưng cũng giống như nhữngkhối đá còn bề bộn nhưng sẽ là nền móng vững chãi cho một nền văn minh tái tạo mà sám hối với người chết oan ức là bước cơ bản đầu tiên; những nơi tập trung người Do Thái trước khi điệu họ ra ga đi các trại tập trung, tưởng như mới hôm qua; bức tường Berlin ngày xưa hung hãn với những bức tường cao ngất, hào sâu, hàng rào chạy điện và một dãi đất thần chết mai phục sau bức tường với hàng trăm tháp canh, nay tất cả bị tháo gỡ hết, chỉ con một quãng tường 200 mét trơn tru, ngớ ngẩn, kỳ cục, nếu quy chiếu với một giai đoạn lịch sử đau thương, bi thảm; lâu đài Charlottenburg, một Versailles thu nhỏ; nhà thờ tưởng niệm cụt đầu Kaiser-Wilhelm, một chứng tích như một vết thương không bao giờ lành giữa thành phố xá nhộn nhịp, văn minh hết cỡ; năm viện bảo tàng nổi tiếng ở đảo bảo tàng nói đến sự quan tâm bảo tồn văn hoá của mình và của thế giới nơi người Đức tới mức nào; lâu đài Sanssousi của một thời hoàng kim giữa rừng hoàng kim sắc lá và bầu trời xanh biếc thanh bình. Và thăm cả những nơi không được các sách hướng dẫn du lịch đề cập nhiều: công viên có tượng Karl Marx và Friedrich Engels, hai nhà tư tưởng mặt râu xồm xoàm mà vẫn không che được nụ cười giễu giễu của họ như đang giễu những tên đồ tể có hình in trên các tảng kim loại trắng, lớn dựng đứng trước mặt tượng đài, cái bọn mượn đại lý thuyết vốn đầy hoang tưởng và giả xạo của họ* để làm cái gọi là cách mạng, thực ra là làm loạn, ăn cướp vì bọn này không thể cạnh tranh với người khác trong ghế hàn lâm, chốn trường ốc, để may ra thành công, thời làm vương làm tướng, dê béo, rượu nồng, gái đẹp như bao ông vua thời xưa ở Việt Nam cũng như Trung Hoa từng làm, và trong hàng lô ảnh đó,có ảnh Hồ Chí Minh đang giả bộ thị sát trận địa Đông Khê từ trên núi, và ảnh ”Cô du kích nhỏ giơ cao súng. Thằng Mỹ lom khom bước cúi đầu”; hai công viên kỷ niệm và là mộ địa của hàng ngàn Hồng Quân Nga: Treptow và Tiergarten, cả hai nơi có tượng hai chiến sĩ hồng quân khổng lồ, uy nghi, riêng tượng người chiến sĩ ở Treptow, tay cầm kiếm, tay ôm một em bé anh vừa cứu, mặt anh, tình thương vừa trổi dậy đã làm cho dìu dịu, nhưng nét tàn bạo vẫn còn đậm nét, in hình trên trời thu thiên thu, làm cho khách du quên đi trong chốc lát hình ảnh hồng quân giằng cướp xe đạp của một phụ nữ Berlin, những chuyện hãm hiếp phụ nữ kẻ chiến bại, kể cả những bà già.
Xem thế Trí tưởng cũng đã quá đủ cho chuyến đi, muốn hai đứa chỉ nằm dài trong khách sạn một ngày trước khi về Na Uy, nhưng Thuý muốn hai người đi xem một tỉnh sâu trong nội địa Đông Đức để xem cảnh trí, con người của một nước xưa kia thuộc cộng sản, nay ra sao. Càng phải nên đi, khi anh Nhân khuyên đi Dresden, Đông Đức, vì ở đó có viện bảo tàng Gemäldegalerie Alte Meister – Phòng Tranh Các Danh Hoạ Xưa có trưng bày 750 tác phẩm nổi tiếng của Ý, Hoà Lan, Pháp, Đức vẽ từ thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 18. Lần này không có anh Nhân đi cùng. Dọc dường xe chạy đất rộng người thưa, nhiều rừng thông, rừng bạch đàn vừa mới trồng ngay ngắn như rừng cao su bên mình, nay mọc đã khá cao. Những cánh đồng cỏ úa vàng còn nằm chơ vơ vài kiện cỏ bỏ quên, những cánh đồng đất đen mênh mông đã được cày dọn tươm tất và đã được gieo hạt chờ xuân về nảy mầm, phủ xanh. Tuyệt đối không thấy một khẩu hiệu lên gân, cha chú, kiêu ngạo giăng ngang đường, treo trên cây. Tiếng loa hô hào cỗ võ dĩ nhiên làm gì có! Thấp thoáng những khuôn mặt vui, mặt đẹp mời mua một sản phẩm nào đó trên những bảng quảng cáo, những hàng chữ tôn trọng óc thẩm mỹ của người nhìn. Những đoàn xe Trabant nhỏ xíu chạy dòng dòng như những cổ vật kỳ cục cho du khách xem. Thuý cứ ứa nước mắt, chùi nước mắt mãi. Thuý nói nhỏ mà đầy hậm hực:
- Giá cộng sản Bắc Việt cũng khôn như cộng sản Đông Đức, thì nước mình đâu có giết nhau, em cũng không mất ba em -  Rồi nàng ngã người vào ngực Trí, lim dim - Hay là anh Trí làm ba em đi. Từ nay em gọi anh là pappa nhé.
- Ừ, pappa, như vậy càng thích.
Thuý cười:
- Thật không?
- Thật.

Trung tâm thành phố Dresden gồm khu phố mới xây sau thống nhất mang nét kiến trúc Đức hiện đại, đường nét đơn giản, thoáng mặt ngoài, rộng bên trong, ánh sáng chiếu vừa phải, màu tường thanh nhã, trang trí bên trong kiệm nét; và khu phố cũ gồm các nhà thờ cổ, các dinh thự xưa và các viện bảo tàng cổ kính, còn sống sót được sau dâu biển chiến tranh và đại hoạ cộng sản. Nét chung của các công trình kiến trúc cổ này là đầy những mảng màu đen nham nhở, không biết đó có phải là rêu phong cổ vật hay là hậu quả của không khí ô nhiễm khói thải bừa bãi trong thời cộng sản chưa tẩy kịp, vì những mảng đen như thế ít thấy ở các dinh thự cổ ở phần Tây Berlin cũ. Khi vào phòng tiếp tân của viện bảo tàng kể trên, hai người lại đụng cái nét cộng sản nhà nghèo bủn xỉn: hai tiếp viên trẻ mà mặt hầm hầm, máy hướng dẫn xám xịt, dơ bẩn, cũ rích, phải trả 3 euro tiền thuê và phải gởi hộ chiếu hay bằng lái xe (không nhận thẻ nhà băng). Khi hai vợ chồng không có những thứ giấy tờ yêu cầu, cô gái nhăn nhó yêu cầu đóng 20 euro tiền thế chân, lại viết biên lai, ký vào, nhận biên lai cất kỹ, trái với ở Berlin, máy hướng dẫn thanh nhã, xinh xắn, nửa màu ngà, nửa đỏ, sạch sẽ, không phải trả thêm (chắc là có tính vào tiền vé vào cửa rồi), không phải thế chân, dùng xong tự trả lại, và các tiếp viên ai cũng tươi cười, lịch sự.
- Thưa ông, thưa bà, tôi không biết tại sao Berlin dễ dãi hơn nơi đây rất nhiều.Tôi không hiểu tại sao tới lúc này mà quý ông, quý bà chưa chịu bỏ hành tinh khỉ đột của quý ông, quý bà.- Thuý nói với thứ tiếng Đức chuẩn xác với giọngkẻ cả. Hai đứa nhân viên tiếp tân, anh con trai đưa tay bụm miệngcười; cô con gái trừng mắt nhìn.
- May mà không còn cộng sản, nếu không, đã bị “mời đi làm việc” - Thuý che miệng vừa cười vừa nói khi vừa đi khỏi quầy tiếp khách - Anh chàng cười có lẽ là người Tây Đức. Con nhỏ kia trợn mắt là Đông Đức.
- Chơ lúc nãy khi anh hỏi thăm đường, có con nhỏ xinh xắn nhanh nhẩu chỉ đường cặn kẽ cho chúng mình, chẳng lẽ con nhỏ đó cũng là người Tây Đức hay sao em?
Thuý nhíu mày rồi gật đầu ậm ừ:
 - Ừ, em thiệt bậy. Nước Đức đã thống nhất 25 năm rồi; cả một thế hệ chơ đâu có ít! Vơ đũa cả nắm. Tại em tức tụi cộng sản quá mà!
Tất cả mọi chuyện bực bội biến ngay khi hai người bước qua cánh cửa to lớn, uy nghi và vào trong viện bảo tàng. Một thế giới trung cổ muôn màu, muôn vẻ, điệu nghệ như đang mở rộng vòng tay đón mời. Đã có nhiều khách thưởng lãm, nhưng các khu trưng bày tranh vẫn yên ắng, êm ả, chỉ đôi tiếng thì thầm tưởng như không phải từ khách du đời nay mà từ những người quý phái trung cổ đang trở về họp mặt trong những đại sảnh lâu đài sang trọng, thanh lịch của họ thủa nào.
Thuý và Trí, hai người đồng ý xem riêng để dùng thời gian nhiều ít cho mỗi bức tranh tuỳ ý thích mỗi người. Trí lần lượt xem qua các tác phẩm phụ, xem kỹ các tác phẩm được giới thiệu là tác phẩm chính. Trí dừng lâu trước tác phẩm Venus Ngủ của Titian Giorgione. Nàng nằm thư thái giữa cánh đồng xanh sậm màu dìu dịu, xa nơi phồn hoa, phố thị nằm sau hậu cảnh. Thân thể nàng buông chùng ngơi nghỉ. Cặp vú tròn hiền lành như những ngọn đồi thoai thoải thấp thoáng xa gần. Tấm trải vải lụa màu ngà bóng và tấm nhung đỏ nàng nằm lên gợi sự giàu sang nhung lụa đời nàng. Nhưng bây giờ nàng là người đàn bà nguyên thuỷ đang nằm yên bình, quên đi cái xã hội giả trang phiền toái. Trí xem một lúc, rồi ngồi thụp xuống ghế-xem-tranh, ôm đầu, chép miệng buồn bã.

Trong khi đó Thuý lại xem lâu bức Vương quốc của Flora phòng bên kia. 



***
- Sao em ngắm bức Vương quốc của Flora lâu vậy? Có gì đặc biệt không?
- Nữ thần Flora giống mẹ em. Hay nói cách khác mẹ em là hiện thân của bà.
- Vậy sao!
- Mẹ em đẹp, đẹp như nữ thần Flora trong tranh. Mẹ không nhảy múa suồng sã như thần Flora, nhưng nhiều đêm, nhất là những đêm trăng, em thấy mẹ hay mặc áo lụa mỏng trễ tràng tới ngực, đi ung dung trong vườn; có bữa vừa đi vừa hút thuốc thơm rồi thả khói lên trăng. Và, em nghĩ, như nữ thần trong tranh, mẹ đã bố trí, tô điểm vườn đời mình kỹ lưỡng để mời những người mẹ yêu thương vào sống cuộc đời hoa mộng. Quay lại chuyện bức tranh: có một điều lạ là nữ thần Flora lại không mời chính nam thần Pripaus bằng da bằng thịt mà chỉ đặt tượng ông ta góc vườn. Là sao vậy anh?
- Anh nghĩ điều hoạ sĩ Poussin muốn diễn tả đó là Flora chủ động trong chuyện sex; đôi khi sex chỉ là đồ trang trí cho cuộc chơi bà bày, không như cô nàng Clytie, mê đắm mê đuối anh chàng Apollo hào hoa đang cỡi xe tứ mã trên kia.
Thuý cười rúc rích:
- Ừ, anh nói đúng đó.
Giọng Trí êm êm theo nhịp sương thu đang dìu dịu dâng từ sông Elbe lên vọng đài Semperoper:
- Và mẹ em đẹp, có nhiều điều kiện để trở thành một người đàn bà hạnh phúc như nữ thần Flora, nhưng mẹ suốt đời phải tính toán lo cho em được hạnh phúc. Em được hạnh phúc, đó là mục đích của đời mẹ. Làm được như thế không phải dễ trong một làng quê của một Việt Nam Cộng Sản. Ly Hoàng Ly có bài thơ nói về một người đàn bà văn minh, thanh nhã phải đối diện với thời cuộc bẩn thỉu, đểu cáng đang trồi lên: Lũ gián khua râu hà hít/ Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân/ Giữ cho đứa con trong bụng tư thế ung dung và thách thức
Thuý bóp tay Trí, ứa nước mắt, nép vào mình chàng:
- Ôi, người đàn bà trong câu thơ lại chính là mẹ em, mà anh ơi, em cảm thấy cuộc đời chúng ta như một bảng trò lắp ghép. Các mảnh đã vào đúng chỗ rồi, chỉ còn thiếu một miếng, thì gia đình chúng ta sẽ có được bức tranhgia đình tốt đẹp toàn vẹn, đó là miếng mẹ, mẹ sống với gia đình chúng ta.

Oslo, 13. XII 2015
* Xem Paul Johnson, The Intellectuals, chương  Karl Marx. Johnson chứng minh rằng lý thuyết của KM dựa trên những bài thơ đầy hoang tưởng siêu hình của chính KM, và Johnson, sau khi tìm ra và đối chiếu những cứ liệu về công nhân Anh mà KM dùng để làm nền cho lý thuyết thặng dư giá trị (mà các kẻ xử dụng do đó cho là mang tính khoa học) với cứ liệu gốc, Johnson thấy rằng những cứ liệu KM dùng là sai, giả hoặc bị KM bôi sửa.







Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)