Tìm kiếm Blog này

Ngô Thế Vinh - Xem Tranh Ðinh Cường

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016


Lời Tòa soạn DĐTK - Vào ngày 8 tháng 9, 2015, DĐTK đã đăng bài “Đi vào cõi tạo hình một Đinh Cường đốn ngộ” của tác giả Ngô Thế Vinh, một bài viết đầy đủ và sâu sắc nhất về họa sĩ Đinh Cường cho đến nay. Trước tin họa sĩ Đinh Cường vừa từ trần, chúng tôi xin trích đoạn Xem tranh Đinh Cường từ bài viết trên để mời quý độc giả nhìn lại năng lực sáng tạo của người họa sĩ tài hoa đã liên tục sáng tác từ đầu thập niên 1960 cho đến thời gian gần cuối cuộc đời. - DĐTK

Qua đồi cát La Vang, Đinh Cường sơn dầu sưu tập của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (trái)  
Vườn Đá Tảng, Đinh Cường sơn dầu 1994 (phải) 

Bày tỏ về nghệ thuật hội hoạ, Đinh Cường cho biết: 
“Tôi đã vẽ trong mọi hoàn cảnh, nơi chốn. Không biết để làm gì. Có lúc gần như tuyệt vọng, đôi khi thấy mình được cứu rỗi. Và tôi lại tiếp tục vẽ, tiếp tục suy nghiệm.”

Đinh Cường đã thành danh trước khi tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật 1963. Trước đó một năm, với bức Thần Thoại Đinh Cường đã sớm tạo được thành tích với một Huy Chương Bạc trong cuộc Triển Lãm Mùa Xuân năm 1962.

Trang tranh Đinh Cường trên báo Thế Giới Tự Do, 
Tập XIV Số 8, 1967 Sài Gòn

Khởi đi từ giai đoạn nghệ thuật tạo hình/ figurative paintings, Đinh Cường đã nổi tiếng ngay với những bức tranh của một thời kỳ lãng mạn với đường nét thanh thoát về một Đà Lạt với phố núi mù sương vừa thơ mộng và cả quạnh hiu với đỉnh nóc tháp chuông nhà thờ với lẻ loi một bóng chim đậu.
Người xem tranh Đinh Cường khi ấy không thể không liên tưởng tới hình ảnh nóc nhà thờ trong cuốn phim trắng đen Les Dimanches de Ville d’Avray nổi tiếng của Pháp chiếu ở Sài Gòn thời bấy giờ (1962). Đó là câu chuyện của viên phi công trong khi tấn công một đoàn xe địch, anh tin rằng mình đã giết lầm một bé gái; phi cơ anh bị bắn hạ, tuy sống sót nhưng anh hoàn toàn mất trí nhớ. Sau này khi anh gặp một cô bé Cybèle 10 tuổi bị bỏ rơi trong viện mồ côi sống với các bà sơ, anh đinh ninh đó là cô bé gái đã bị chết trong vụ oanh kích và từ đó đã nẩy sinh một mối liên hệ tình cảm thánh thiện giữa anh phi công và cô bé. Nhưng vẻ đẹp thuần khiết của mối liên hệ ấy đã bị nghi ngờ, trở thành scandal trong thị trấn Avray và kết thúc là một thảm kịch. Đinh Cường kể lại là sau này có dịp sang Pháp, anh đã tìm tới thăm thị trấn Avray, tới tìm lại hình ảnh ngôi nhà thờ với đỉnh tháp chuông có gắn con gà bằng đồng trong cuốn phim đã xem từ năm nào.

Với hơn nửa thế kỷ vẽ tranh và không ngừng sáng tạo, đã có nhiều bài nhận định phê bình về hội hoạ Đinh Cường. Hầu như tất cả đều nói tới “chất thơ” chất lãng mạn của tranh Đinh Cường.

Trịnh Công Sơn viết: “Trong hội hoạ, Đinh Cường là thi sĩ của hoài niệm” [Tuổi Trẻ, tháng 9, 1986].

Đặng Tiến trong một bài viết tiếng Pháp giới thiệu cuộc triển lãm tranh Đinh Cường tại Galerie Annam Héritage 2010, nhan đề “Đinh Cường, La Source Résurgente/ Tấm lòng Vô hạn”, Đặng Tiến viết: “Tranh Đinh Cường, trong tinh thể, phải chăng là ký ức của một đoá hoa hồng đã hiến dâng hương sắc cho trần gian. Và nghệ thuật trần gian phải chăng là hoài niệm một mùi hương” [Orleans, tháng 10-2010]

Huỳnh Hữu Uỷ nhận định: “Đinh Cường đã dựng nên một vũ trụ đầy chất thơ, kết hợp rung cảm với bút pháp độc đáo của một tư duy riêng biệt. Ở đây, âm hưởng của màu sắc, bố cục của đường nét là phương tiện phô diễn tính cách độc đáo của một tư tưởng nhiều chiều sâu, phản ánh nhiều hình bóng của đời sống và thời đại.”

Đinh Cường và Huỳnh Hữu Uỷ
Bùi Giáng nói tới chất thơ trong tranh Đinh Cường, trong một bài thơ tiếng Pháp tặng Đinh Cường 1972:
Le Poème de la Peinture
Il s’en va come le Poisson d’eau douce
Sa Peinture rêveuse s’en va comme le Demeurer du Demeurant
Qui déploie son ordre et se refuse
Sur le mode de la Double Réserve
Je n’ai rien à lui dire sinon peut-être
Que le Poème de la Peinture 
S’ entend à merveille avec la Peinture du Poème
Comme la Reine des Almées
S’ appelle aussi bien l’ Almées des Reines
Que le Retour de la convalescente qui chante sa joie
A réjoui immensément l’ Enfant des Riveraines
Au bord de l’ Abîme des Abîmes
Vou n’ avez rien à lui dire sinon peut-être
Que l’ Éclaircie de l’ Être lui est favorable
Comme l’ Éraflure du Temps lui est favorisante
Lorsque la Terre advient à l’ émergence 
Tandis qu’un Monde s’ouvre    
Bùi Giáng 1972

Thủ bút Bùi Giáng, “Bài thơ Hội hoạ” tặng Đinh Cường 1972; 
Đinh Cường Bùi Giáng, Sài Gòn 1987

Bản phỏng dịch Ngô Văn Tao 
(Ngô Văn Quế, Gs Toán ĐH Montréal, bạn nhà thơ Bùi Giáng)
[nguồn: DNSG – Xuân Kỷ Sửu 2009] 

Trong chỗ riêng tư, Đinh Cường cho biết: anh thì vẫn tâm đắc nhất với bài viết của Đỗ Long Vân, nhà nghiên cứu mỹ học, người bạn chung sống với Đinh Cường hai năm ở Đà Lạt trong cùng một studio nhỏ trên đường Hoa Hồng. Bài viết tiếng Pháp của Đỗ Long Vân, được một Bửu Ý tài hoa dịch sang tiếng Việt. Trích đoạn:
“Nul éclat. Aucune dissonnance. Une pâte sombre et dense, légère malgré cela, et qui chante comme de l’or. C’est un or nocturne dont toute la lumière est tournée vers l’intérieur. Cela ennuie tout d’abord, et puis l’on finit par aimer cette pudeur obstinée, qui, pour sembler sans audace, n’en est pas moins durement conquise. Il suffit d’ailleurs de regarder Cuong au travail et l’on voit que le charme simple et lisse qui séduit lentement en ses toiles, jamais Cuong ne l’a atteint du premier coup, mais qu’il est l’aboutissement de longs essais où se conjuguent le hasard et l’on ne sait quelle fatalité. Ses toiles débutent toujours dans l’éclat. Cela commence comme une explosion de fleurs et, presque toujours, cela devient un océan et nuit bleue et noire, non la vieille nuit sanglante qui obsède la mémoire de son souvenir, mais la jeunesse du monde dont tous les trésors enfouis s’éveillent pour illuminer de leur éclat fragile cette première nuit qui s’appellerait aussi bien l’aurore. Car voilà que du fond de la terre des lueurs nous viennent, que l’espace s’entr’ouvre dans un envol d’acier, que des cristaux scintillent tandis qu’au-dessus de l’abime, des villes en dérive tentent d’aller ensemble…”

“Không rực rỡ, không lạc điệu, một chất màu ủ và quánh mà vẫn nhẹ nhàng và reo ca như vàng kim. Một thứ dạ kim với bao nhiêu hào quang quay trở vào bên trong. Điều này thoạt tiên bắt chán, cuối cùng ta lại đem lòng yêu mến cái e ấp trì quyết ấy, nó có vẻ như không táo gan, nhưng không phải vì thế mà không khổ công chinh phục. Phương chi chỉ cần nhìn Cường làm việc và ta thấy cái đẹp đơn sơ và bóng láng quyến rũ chầm chậm ở tranh anh, không bao giờ Cường đạt được ngay từ lúc đầu, mà nó là kết thúc của nhiều dò dẫm dài hơn, nơi kết liên của ngẫu nhiên và một tiền định nào đó không hiểu. Tranh của anh luôn luôn khởi đi từ trong ánh rực rỡ. Bắt đầu như một vỡ oà của hoa, và hầu như luôn luôn trở thành đại dương đêm xanh đen, không phải cái đêm cổ tích đẫm máu ám ảnh ký ức bằng kỷ niệm, nhưng là tuổi trẻ của trần gian với hết thảy kho tàng vùi chôn choàng dậy hầu soi tỏ bằng ánh sáng mong manh cái đêm đầu tiên ấy, cũng có thể gọi luôn là buổi lê minh. Vì chưng đã đến với ta kia, từ cùng thẳm địa cầu, từng đợt sóng, không gian hé mở trong một vỗ cánh ánh thép, những mảnh thuỷ tinh nhấp nháy, trong khi bên kia vực thẳm, bao thành phố rắp tâm phiêu dạt theo nhau…”  

Đỗ Long Vân và Đinh Cường, Đà Lạt 1963

Sau Đà Lạt, Đinh Cường có một thời gian sống lâu dài ở Huế, anh đã sáng tác những bức tranh với màu sắc u trầm – chữ của Huỳnh Hữu Uỷ, về Thành Nội về một cố đô Huế khuê các nhưng tàn tạ khuất lấp sau những lớp rêu phong.

Studio Đinh Cường, đường Rose Đà Lạt 1963 (trái)
Đà Lạt Nostalgia, tranh Đinh Cường sơn dầu

Đinh Cường thành công rất sớm nhưng anh vẫn đi tìm cái mới, có một giai đoạn khoảng sáu năm (1969-1975), anh chuyển qua nghệ thuật hội hoạ trừu tượng/ abstract paintings.

Trả lời phỏng vấn báo Thế Giới Tự Do [Tập XIV, số 8, 1967 Sài Gòn], Đinh Cường thổ lộ: “Tôi đã dần dần tước bỏ hết ý niệm về sự vật, hay nói theo danh từ triết học kinh điển, loại bỏ mô thể/ forme của sự vật để chỉ còn giữ lại chất liệu/ matière thuần tuý của sơn dầu.” Nhưng rồi cuối cùng anh vẫn trở về với hội hoạ tạo hình, với những bức tranh rất Đinh Cường, có thể nói không cần có chữ ký, người thưởng ngoạn vẫn có thể nhận ra bức tranh đó là của Đinh Cường. Số lượng tranh Đinh Cường đã vẽ có thể lên tới con số ngàn. Định cư ở Mỹ từ 1989 tới năm 2000, chỉ trong vòng 10 năm, Đinh Cường đã thực hiện được 5 cuộc triển lãm, chưa kể những cuộc triển lãm tranh trong nước.

Studio Đinh Cường, đường Hoà Bình Huế 1966
Huế Nostalgia, tranh Đinh Cường sơn dầu (phải)

Theo Đỗ Hồng Ngọc – nhà thơ Đỗ Nghê, Thân Trọng Minh – nhà văn nhà thơ Lữ Kiều, là hai bạn đồng môn cho biết mặc dù phát hiện bệnh từ 2011, Đinh Cường vẫn về Việt Nam triển lãm tranh với Thân Trọng Minh năm đó. Năm 2013, tuy đã yếu nhưng Đinh Cường vẫn về Việt Nam gặp gỡ bạn hữu và triển lãm tranh lần thứ hai. Chuẩn bị năm 2015 sẽ về thực hiện một cuộc triển lãm tranh quan trọng khác tại Đà Nẵng trong Viện Bảo Tàng Điêu Khắc Chàm/ Musée de la Sculpture Cham, nhưng lần này phải hoãn lại vì Đinh Cường bước vào giai đoạn chemo.

Ngoài khối tranh nghệ thuật, đa số là sơn dầu, là sự nghiệp hội hoạ rất dày của Đinh Cường, phải kể tới những ký hoạ chân dung của đông đảo các văn nghệ sĩ, và cả những chân dung tự hoạ, đây cũng là một nét tài hoa khác của Đinh Cường.

Từ trái: ký hoạ Bùi Giáng, Tuệ Sĩ, Nguyễn Đức Sơn


Từ trái: ký hoạ Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn

Đinh Cường đã từng cảm phục sức làm việc của Khánh Trường, nhất là trong suốt thời kỳ đang bệnh hoạn: hai lần tai biến mạch máu não, ung thư thanh quản, xuất huyết bao tử, truỵ thận phải liên tục lọc máu hàng đêm/ Peritoneal Dialysis. Vậy mà Khánh Trường vẫn viết tác phẩm Tịch Dương, vẫn nhận trình bày các bìa sách, vẽ rất nhiều tranh thiền và mở ba cuộc triển lãm. Đinh Cường viết về Khánh Trường: “một con người tưởng đã chết đi và sống lại, sống lại lẫm liệt để Qua Bờ. Bờ của an trú tịch nhiên” [Khánh Trường, Sức Mạnh của Im Lặng, Virginia Jan 8, 2012]

Nhưng rồi chính bản thân Đinh Cường sau này cũng qua những trải nghiệm thăng trầm về sức khoẻ, không thiếu gian truân, nhưng sức làm việc của Đinh Cường cũng vẫn cứ bền bỉ không ngừng sáng tạo trong mọi hoàn cảnh. 


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)