Tìm kiếm Blog này

Hùng Tâm - Vì sao thống kê Trung Quốc không đáng tin?

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016


Hôm Thứ Ba 19, Cục Thống Kê Quốc Gia của Bắc Kinh vừa công bố số tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong năm 2015 là 6.9%, được truyền thông quốc tế đánh giá là mức thấp nhất kể từ 25 năm nay. Có hai chi tiết đáng chú ý từ mẩu tin: 1) kết quả quá phù hợp với chỉ tiêu do lãnh đạo Trung Quốc đưa ra từ năm ngoái, là 7.0%, 2) nhưng... chả đáng tin!

Giới chuyên gia am hiểu về kinh tế Trung Quốc lập tức nêu ra sự hoài nghi và lượng định khác.


Ước tính của quốc tế


Nhiều người đã từng nêu vấn đề về tính chất bất khả tín của thống kê Trung Quốc. Mới nhất là những trường hợp sau đây:

Cầm đầu Trung tâm Trung Quốc của Evercore ISI, doanh nghiệp tư vấn cho các ngân hàng đầu tư, ông Donald Straszheim cho là thống kê hôm Thứ Ba vừa qua của Bắc Kinh không có thông tin gì mới. Chẳng những Cục Thống Kê không thèm trả lời các câu hỏi của chúng tôi mà còn báo rằng chỉ phổ biến số tăng trưởng tổng hợp chứ không phân giải từng thành phần. Nếu không có từng thành phần của đà tăng trưởng thì làm sao cộng ra con số tổng hợp? Nếu họ có thì tại sao lại không công bố? Ông Straszheim kết luận: Chẳng cần là nhà bác học thì cũng có thể thấy đà tăng trưởng của nền kinh tế “cũ,” chuyên về ráp chế, nằm gần số không chứ chẳng thể là 6.8%. Vì thiếu dữ kiện từ tư doanh, người ta khó tính ra sản lượng của khu vực dịch vụ.

Học giả Derek Scissors của American Enterprise Institute, một think tank có uy tín của giới bảo thủ vạch ra mâu thuẫn của các số liệu kinh tế Trung Quốc: Tân Hoa Xã báo cáo rằng lượng hàng vận chuyển bằng hỏa xa giảm 15.6% quy ra toàn năm, vậy mà thống kê về sản lượng công nghiệp lại tăng 6.2%. Chẳng lẽ hãng xưởng sản xuất rồi chất đống dưới đất mà khỏi chở đi nơi khác? Ông ước tính đà tăng trưởng thực tế còn thấp hơn 4%.

Trong giới đầu tư, Gary Shilling có vị trí độc đáo, là chủ tịch doanh nghiệp Nghiên Cứu Kinh Tế A. Shilling and Co. từ nhiều năm trước đã tiên báo sự sa sút kinh tế của Trung Quốc trước sự hoài nghi của nhiều người. Lần này ông phát biểu rằng không ai biết sự thật là như thế nào, nhưng khi tìm hiểu sâu xa hơn vào các dữ kiện khó kiếm, chẳng hạn như lượng hàng vận tải qua thiết lộ (hỏa xa), lượng than và điện tiêu thụ, doanh nghiệp của ông ước tính đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chỉ ở khoảng 3% chứ không thể gần với 7%.

Tỷ phú Wilbur Ross là nhà đầu tư chuyên mua các doanh nghiệp lâm nạn, tái cấu trúc và tổ chức lại để bán ra tiền. Ông cũng dùng các dữ kiện về vận tải, về nguyên nhiên vật liệu trong sản xuất như xi măng, thép, than, điện, để ước tính sản lượng kinh tế Trung Quốc chỉ ở mức 4% mà thôi.
Hồ Sơ Người-Việt cố tiến xa hơn để tìm hiểu tại sao thông tin kinh tế của Trung Quốc lại có vấn đề.

Những sai lầm của quốc tế


Trước hết, vì sao ngày nay người ta mới ngạc nhiên về sự sa sút kinh tế của Trung Quốc? Chỉ vì trong một giai đoạn khá lâu đến hai chục năm, quốc tế đã sai lầm khi đánh giá kinh tế Trung Quốc. Sau đây là bảy nguyên nhân đáng kể nhất.


Thứ nhất, quốc tế thiếu am hiểu địa dư hình thể Trung Quốc nên không thấy xứ này có ba nền kinh tế khác biệt trên một lãnh thổ rộng lớn bằng lãnh thổ Hoa Kỳ, chứ không chỉ có vùng duyên hải là nơi các doanh nghiệp quốc tế đầu tư để kiếm tiền. Họ không nhìn ra thực tế nghèo nàn lạc hậu của một khu vực bát ngát bên trong.

Thứ hai, quốc tế không hiểu rõ và đánh giá sai mâu thuẫn rất lớn và thật ra cũng rất cổ điển giữa trung ương và địa phương nên không thấy rằng vì lý do chính trị cải cách là điều rất khó. Quốc tế cho rằng chế độ độc đảng toàn trị có ưu điểm là muốn làm gì cũng được.

Thứ ba, nhiều doanh nghiệp đầu tư che giấu sự thất bại của họ mà cố quảng cáo về triển vọng Trung Quốc với các thân chủ ủy thác tiền đầu tư vào xứ này. Loại gian ý như vậy không phải là hiếm nếu chúng ta nhớ lại vụ khủng hoảng tài chánh sau khi thị trường gia cư Hoa Kỳ bị bể bóng cách nay 10 năm.

Thứ tư, nhiều trung tâm nghiên cứu hay think tanks không dám nói thẳng về sự thật vì sợ phản ứng của lãnh đạo Bắc Kinh khiến họ khó ra vào Trung Quốc để trở thành “chuyên gia về Trung Quốc.”

Thứ năm, trong số này, không thiếu gì người thực tình tin vào lý luận tuyên truyền của Bắc Kinh, vì vậy, số liệu giả tạo của Trung Quốc cứ được họ loan truyền mà khỏi kiểm chứng. Và truyền thông nông cạn lại tin vào sự khách quan của họ.

Thứ sáu, khá rắc rối và chuyên môn, giới học giả Hoa Kỳ và Âu Châu thiếu kiến thức về kinh doanh và về kế toán nên chẳng thấy nạn sản xuất dư thừa không là tăng sản lượng mà chỉ là chất lên tồn kho ế ẩm được tài trợ bằng một núi nợ. Họ không tin rằng Trung Quốc mắc nợ nhiều như vậy trong khi vẫn sản xuất từng núi hàng vô dụng, những trung tâm thương mại vắng khách, nhiều khu vực gia cư sụt giá từ mấy năm nay.

Sau cùng, rất nhiều trí thức thiên tả Tây phương luôn luôn tin tưởng vào vai trò của nhà nước. Họ tưởng là vì nhà nước Bắc Kinh có toàn quyền nên có khả năng quản trị cao hơn nhà nước Tây phương. Những vụ khủng hoảng tài chánh tại Âu Châu hay tranh luận chính trị tại Hoa Kỳ càng củng cố lập luận sai lầm này của giới trí thức khuynh tả. Đa số truyền thông cũng thiên tả nên có sự đánh giá thiên lệch mà không biết!

Bây giờ, ta mới đi vào thực tế Trung Quốc.

Độc tài nên nói tài mà làm dở


Về kinh tế chính trị học Trung Quốc, chúng ta cần hiểu ra hiện tượng tập trung/tản quyền, thi đua và tranh giành ảnh hưởng giữa từng địa phương với nhau và giữa trung ương với các đảng bộ địa phương.


Thời Mao Trạch Đông, trung ương phát động “Bước nhảy vọt vĩ đại” là bóc lột nông dân để công nghiệp hóa từ dưới lên hầu nơi nơi đều có nhà máy luyện kim bỏ túi và báo cáo thành tích lên trên. Thật ra sự hoang tưởng này lại gây khủng hoảng khiến mấy chục triệu người chết đói ở dưới mà ngay trung ương ở trên không biết. Khi ấy, thế giới bên ngoài cũng không biết.

Một đặc tính thuộc về tổ chức chính trị là mọi đảng viên cán bộ đều có hai mũ, mũ đảng viên và mũ cán bộ, và đảng viên có quyền hơn công chức nhà nước. Cả hai thành phần đều thăng quan tiến chức là qua sự thẩm định của cấp trên chứ không do sự hài lòng hay không của người dân ở dưới. Vì thế, khi thu thập thống kê để báo cáo lên trên, họ đều châm thêm “hệ số tô hồng” hay hệ số tâng công, để cuối cùng bịt mắt trung ương.

Không những vậy, họ dùng thống kê và đưa ra số liệu sai lầm để còn tác động vào chánh sách hoặc lách qua những quyết định của trung ương. Vì vậy, 30 năm sau khi Đặng Tiểu Bình cải cách kinh tế, đầu năm 2009, trung ương cho tổ chức lại việc thu thập thống kê mà đến nay chưa không giải quyết được. Trung bình thì cứ ba năm người ta lại nghe nói đến việc cải cách hệ thống thu thập thống kê mà chẳng thấy cải tiến.

Một thí dụ là Cục Thống Kê Quốc Gia ở trung ương tổng hợp các số liệu của bộ máy thống kê của họ trải sâu xuống dưới để có tổng sản lượng Kinh Tế Toàn Quốc. Con số ấy luôn luôn thấp hơn tổng sản lượng của tất cả 31 tỉnh thành trên cả nước, thấp hơn từ 500 tỷ đến 900 tỷ đô la, nên người dân mới mỉa mai rằng trung ương quên mất nhiều tỉnh! Chỉ vì các tỉnh đều tự động nống thêm thành quả của mình trong các báo cáo đưa lên trên.

Sự thật còn trầm trọng hơn vậy vì hiện tượng “loạn sứ quân” qua thống kê kinh tế và xã hội giữa đảng ủy các tỉnh, thành và trung ương.

Dưới con số lạc quan không chỉ có sự sai biệt về thống kê mà còn có nhu cầu tranh đoạt quyền lực và hậu quả là tập quyền hay tản quyền, là chuyện hợp tan của lịch sử. Các tỉnh duyên hải miền Đông và miền Nam đều hướng ra ngoài và trình bày hình ảnh tô hồng để cho thấy chiến lược xuất cảng là có kết quả về kinh tế và xã hội và để tranh thủ phương tiện cho tỉnh nhà. Các tỉnh nằm sâu bên trong thì chỉ còn một nguồn lợi về thuế khóa và lợi tức cho đảng viên cán bộ là đất đai. Họ cướp đất của dân và làm giàu cho mình. Khi dân chúng biểu tình đánh lộn với công an thì trung ương mới chưng hửng!
Vì vậy, Tập Cận Bình mới tập trung quyền lực về trung ương để chuyển hướng mà không xong.

Khi đã hiểu ra cách thu thập dữ kiện kinh tế xã hội tại Trung Quốc, ta nên chú ý đến sự dị biệt của thống kê chính thức. Khi thấy dị biệt là biết rằng có vấn đề mà không chỉ về kinh tế.

Một thí dụ là cải cách ngành thép năm 2005-2009. Tháng 10 năm 2009, quốc vụ viện Bắc Kinh vừa đồng ý về số biện pháp tiết giảm sản lượng thép vì sản xuất thừa thì thống kê công bố ngày 21 tháng 9 năm đó cho thấy sản lượng thép thô (crude steel) vào tháng 8 lại tăng 22% để lên tới hơn 52 triệu tấn (metric tons). Một kỷ lục mới giữa thời suy trầm, khi sản lượng các nước đều giảm. Đâm ra, Trung Quốc quá mạnh và thế giới trầm trồ ngợi khen một nhược điểm.

Tìm hiểu rõ hơn thì phải lên tới Chánh Sách Thép do Ủy Ban Cải Tạo và Phát Triển Quốc Gia ban hành từ năm 2005 nhằm tái phối trí để nâng cao hiệu năng của các doanh nghiệp sản xuất thép, khi sản lượng thép của Trung Quốc đã đủ cho nhu cầu từ 2006 và từ đấy thừa thép để xuất cảng. Nhưng khi kinh tế toàn cầu suy trầm, lượng thép tiêu thụ đều giảm trên thế giới, số thặng dư đó mới là vấn đề.

Vì do hiệu năng kém - tiêu thụ nhiều cho một suất lượng nhất định - kỹ nghệ thép Trung Quốc gây ô nhiễm và ngốn nguyên nhiên liệu như rồng cuốn khiến giá các nhập lượng đó tăng vọt và nhà nước lại nhảy vào điều tiết để giữ giá nội địa cho thấp. Kết quả chẳng những kỹ nghệ thép của Trung Quốc không tinh tấn nhờ cạnh tranh và đào thải, mà tiếp tục bị phân tán mỏng trong nội địa với giá lệch lạc. Các nhà máy phì phò thán khí và tạo ra ấn tượng kỹ nghệ hóa tưng bừng. Và vì Ủy ban Cải tạo đặt ra sản lượng tối thiểu nếu không thì dẹp lò, các địa phương đều thi đua đầu tư và tuyển dụng để sản xuất cao hơn định mức ấy: Kết quả đi ngược với mục tiêu của trung ương!

Tổng hợp lại thì sản lượng toàn quốc vẫn tăng, phẩm chất vẫn thấp và Bắc Kinh vẫn có thể nói phét về sức mạnh sắt thép của mình. Trong khi thế giới bị điêu đứng vì giá nguyên nhiên vật liệu đều sụt mạnh. Là chuyện ngày nay.

Kết luận ở đây là gì?


Trung Quốc chưa có một bộ máy hành chánh công quyền độc lập và có khả năng. Xứ này chỉ có một hệ thống thư lại thuần phục sự cai trị của một đảng độc quyền. Hệ thống đó báo cáo sai về nhiều chuyện chứ không chỉ sai về thống kê kinh tế.


Cho nên thế giới sẽ còn bị ngạc nhiên về Trung Quốc!


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)