Giới thiệu

Võ Thị Điềm Đạm - Dì Tư Xuân và Ðồng Kho

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 2 năm 2013



Võ Thị Điềm Đạm

Viết theo lời kể của Má, chị em và những gì đã in sâu trong trí nhớ của một cô bé mười-mười một tuổi.

(Tiếp theo và hết)

      Chú Tư  Xuân dẫn Thảo và Thông lên dinh điền từ hôm qua, tính ở chơi ba ngày.  Tiếng là lên từ thành phố, nhưng vì không biết chút gì chuyện nhà cửa, chú Tư Xuân không mang theo một món gì ngoài cái xách trong đó có vài bộ quần áo cho mình và hai con, không đường không bột, không cá khô nước mắm, những thứ thiếu thốn của người dân miền núi.  Biết tánh chồng, dì Tư Xuân để dành hai con rùa đất của dì Năm Hiển từ Tà Bao ghé cho cả tuần nay, định bụng chờ mấy cha con lên thăm như đã hẹn.


      Món thịt rùa xào sả ớt, gạo lúa mới vừa thơm ngọt vừa dẻo ráo, cộng thêm nắng núi khí rừng làm nồi cơm lớn không còn một miếng cháy chỉ sau mười phút.  Thịt rùa ngọt không thua thịt gà nhưng vị thì hơi hơi nồng nên phải dùng nhiều gia vị làm Thông phải chạy ra lu, nốc cạn thêm một gáo nước lạnh.

      Ánh trăng thượng tuần mờ mờ, bóng đêm đang lăm lăm thấp dần làm lưng Thông rờn rợn và khiến Thông liếc nhanh hướng núi Ông đã trở nên đen thẫm choáng cả vùng trời.  Thông giật mình đánh thót khi thấy ba bóng đen đang băng qua đám thơm trước nhà.  Thông vừa chạy vô nhà, định kể cho ba má biết thì con Ki Ki vễnh tai, gầm gừ, sủa to.

      Chú Tư Xuân đang nằm đu đưa trên chiếc võng chuyện trò với dì Tư ngồi têm thêm miếng trầu bên cạnh, vụt đứng dậy, đi nhanh vô nhà trong, trong tư thế dứt khoát như đã dự tính từ lâu.  Giơ ngón tay trỏ lên miệng, nhìn Thảo và Thông, chú ra hiệu im lặng.  Nhón chân, chú đi thật nhẹ vào nhà trong, chỉ dì Tư rồi chỉ ra cửa.

      Hiểu ý, miệng mắng con Ki Ki sủa bậy, dì Tư Xuân chồm người định thổi tắt ngọn đèn hột vịt trên bàn thì có tiếng đập cửa nhè nhẹ, tiếng đàn ông, giọng khe khẽ nhưng nghiêm trọng, như ra lệnh:
      - Chị Tư, mở cửa, mau.

      Dì Tư Xuân liếc mắt về phía nhà trong, cố kéo dài thì giờ, giả bộ loay hoay tìm vô đôi guốc vông, nói vọng ra:
      - Chờ chút!

      Bên ngoài không chịu “chờ chút”, cánh cửa khép hờ bật mở tung, ba người bước nhanh vô nhà, khép mau cánh cửa phía sau lưng.

      Chú Tư Xuân đã thu chân ngồi yên trên bộ ván ở nhà sau, sát tường đất.

Thảo và Thông đứng lấp ló bên bộ ván bên kia, sau bức tường đất, lóng nghe.  Một người trông trẻ hơn hai người kia, ngồi trên bộ ván, quắc tay kêu Thảo và Thông lại gần.  Rụt rè, Thảo và Thông bước ra, đứng lớ ngớ giữa bàn và bộ ván.  Người đàn ông chỉ bộ ván, ra dấu biểu hai đứa ngồi xuống.

      Bộ ván không rộng mấy nên Thảo thấy rõ gương mặt hốc xương do ánh đèn hột vịt chiếu lờ mờ.  Sợi dây quai của cái nón vải đậm màu nằm khuất sau lưng như kéo chằn cổ ông này.  Thông ngồi xa xa ở đầu bộ ván.

      Người đàn ông hỏi Thảo:
      - Cháu học lớp mấy?

      - Dạ… dạ… lớp đệ lục.

      - Trường nào?

      - Dạ… trường Bạch Vân.

      - Ở Tánh Linh hả?

      - Dạ không… dạ ở Phan Thiết.

      - Ủa… cháu nghỉ học theo má lên đây hả?

      - Dạ

      - Vậy cháu lên đây với ai?

      - Dạ… dạ…

      Chợt nhớ đến ngón tay ra dấu im lặng và ánh mắt lo âu của ba má, Thảo nhanh trí, tiếp:
      - Dạ… chị Hai Cao gởi con theo xe đò.

      - Ở Phan Thiết, cháu bị lính Mỹ  đánh lần nào chưa?

      - Dạ chưa.

      - Ủa… chưa hả?  Lính Mỹ canh gác đầy đường mà.

      - Dạ… đâu có… dạ…

      Đầu Thảo làm việc nhanh: “Lâu lâu mới thấy xe chở lính Mỹ chạy ngang hay xe jeep có vài ba lính Mỹ chạy đâu đó trên đường phố.  Chỉ có cảnh sát người mình canh gác chớ đâu phải lính Mỹ.”

      Người đàn ông nói tiếp, nói và hỏi như Thảo là người thành phố đầu tiên ông gặp được:
      - Mỹ Ngụy nói: “Ba người như chú mà ngồi trên tàu lá chuối cũng không gẫy nổi”, phải không cháu?  Tụi nó nói láo đó.  Cháu đừng nghe lời tụi Mỹ Ngụy.  Mỹ Ngụy ác lắm.  Cháu ghét tụi lính Nguỵ, tụi lính Mỹ không?”

      Giương tròng mắt to đen nhìn chăm chẳm gương mặt người đàn ông ốm yếu, Thảo lắc lắc mái tóc đen dài vừa chấm vai, rồi lại nhìn về phía má, rồi lại gật đầu.  Thảo không hiểu người đàn ông muốn nói gì.  Thảo thắc mắc: “ba người ngồi trên tàu lá chuối” chi vậy, ngồi sao được mà ngồi.  Mỹ Ngụy là ai vậy?   Lính Mỹ là người Mỹ.  Còn lính Ngụy là người gì?  Chỉ có lính thường người Việt mình thôi.  Mình chưa bao giờ thấy hay nghe nói lính mình ác.  Còn lính Mỹ, nó cũng đâu có ác, nhưng mình không ưa tụi lính Mỹ cà chớn nghênh nghênh cái bản mặt khi quăng kẹo cao-su cho con nít chạy theo lượm rồi cười ha hả làm cái cục tự-ái-dân-tộc đè ngực mình.  Mình không ưa lính Mỹ chớ mình không ghét, mắc mớ gì mà ghét người ta, người ta có bắt giết ai đâu mà mình ghét.”

      Định quay hỏi ba thì Thảo lại nhớ ngón tay trỏ ông để trước miệng, đầu ông lắc nhẹ, ông nhìn mình, nhìn Thông, ra dấu im lặng như khi nãy.  Giọng người đàn ông nói chuyện với Thảo nghe có vẻ hiền lành, ông vuốt tóc Thảo, vậy mà sao trong lòng Thảo sờ sợ, lo lo.  Linh cảm một chuyện ghê hồn đang xảy ra với ba má.

      Hai người đàn ông kia đã tháo cây súng đang đeo trên vai, mỗi người ngồi đầu băng ghế, xoay lưng về phía Thảo, đối diện dì Tư Xuân.  Nhìn hai cây súng để dựa vào đùi họ, nhìn gương mặt lo âu của má, nghe giọng nói nghiêm trọng phía bàn, Thảo sợ.  Thảo biết những người này là ai.

      Thảo đã nghe chuyện dượng Mười bị mấy-ổng nửa đêm đến bắt, đem ra sau nhà bắn chết tại chỗ.  Thảo đã nghe chuyện chú Hai trưởng ấp bị mấy-ổng nửa đêm đến bắt đi, nằm chết vỡ sọ ở gốc cây keo dọc đường xe lửa.  Thảo đã nghe tụi con Hai Que và thằng Ba Tèo kể về một màn kịch do ban văn công thỉnh thoảng về Đại Nẫm diễn cho bà con coi, rằng mấy-ổng xử tử hình ông công an ở gần nhà mình.

      Thảo rợn người.  Lòng lo lắng và mãi lo ngóng chuyện từ phía bàn khiến Thảo quên trả lời vài ba lần chi đó nên người đàn ông xoay qua bắt chuyện với Thông.

       Cùng tâm trạng như chị, Thông cũng trả lời “dạ có” hay “dạ không” làm người đàn ông rảng rang, ngó bâng quơ quanh nhà.

      Ánh mắt ông ngừng ở cái áo sơ mi ngắn tay móc ở vách gỗ ngay đầu võng.  Ông hỏi Thông:
      - Áo này của ai?

      Thảo lanh trí, trả lời:
      - Dạ… của ông ngoại.  Ông ngoại con về Phan Thiết rồi, dạ...

      Bên bàn, một tai dì Tư Xuân lắng nghe hai người đàn ông nửa giải thích, nửa ra lệnh, một tai dì lo lắng ngóng nghe lời đối đáp của Thảo và Thông với người đàn ông coi bộ trẻ nhất.  Thấy mầm nguy hiểm lố dạng, dì ngắt lời con:
      - Thảo, con coi xuống nấu nước làm cho má một bình trà.  Thông, xuống phụ chị.

      Một người đàn ông ở đằng bàn lên tiếng:
      - Thôi chị Tư, tụi tôi đi ngay.  Đây là giấy nợ của Ban Kinh Tài.

      Dưới bàn, dì Tư Xuân bấu vào đùi để giữ bình tĩnh.  Cố giữ ngón tay cho khỏi run, dì ký nhanh, không cần đọc lại vì khi người đàn ông đọc nội dung tờ giấy dì Tư Xuân không đủ tâm trí để hiểu mức độ quan trọng của nội dung.  Và dì cũng biết rõ lệnh là lệnh.

      Ba người đàn ông đi đã lâu.  Chờ cho con Ki-Ki đã chịu vô nhà và nằm yên, dì Tư Xuân đem cây đèn dầu vô bộ ván, nơi chú Tư đang nằm hồi hộp chờ.  Đọc qua tờ giấy chứng nhận mua lúa của Ban Kinh Tài huyện Tánh Linh, quân khu 6, chú Tư Xuân thở dài:
      - Vậy là xong!

      - Mình tính sao?  Giọng dì Tư Xuân lo lắng.

      - Thì mình coi, cái giấy nợ này chỉ có nước quăng vô thùng rác.

      - Mấy-ổng nói là chừng nào hòa bình, Ban Kinh Tài sẽ tính toán trả tiền sòng phẳng.

      - Mình tin?  Tịch thâu thì nói đại tịch thâu đi, bày đặt mua, bày đặt làm giấy nợ.  Mình bị lừa mà không biết.  Tôi cũng chủ quan, thấy hồi mình dự định công trình khai phá ruộng thì vùng này an ninh và chưa từng có bước chân mấy-ổng đặt tới.  Tôi tưởng mấy-ổng không quan tâm tới chuyện khai khẩn ruộng đất vì công việc làm ăn của mình hoàn toàn lương thiện.

      - Thì bởi.  Hồi đó, có lần mấy-ổng ghé qua xin gạo, có hứa là cách mạng không gây khó khăn gì cho chuyện khai khẩn ruộng đất.

      - Bởi bị lừa là ở chỗ này.  Mấy-ổng để mình tự do khai khẩn, tự do cày bừa, tự do gieo lúa, tự do bỏ vốn.  Đến mùa gặt, chờ gặt hái xong xuôi, lúa chất sẵn sàng chờ đập thì mấy ổng mới ra mặt thâu mua rồi trả bằng tờ giấy lộn này.

      - Tôi than là vì đất quá tốt và mưa nhiều nên lúa lép cũng nhiều nên số lúa thu được không đủ trả nợ vậy mà mấy ổng ra lệnh sẽ thâu mua hai phần ba. Thiệt khổ.  Cũng may là mình lánh vô trong nên mấy-ổng không biết mình có mặt ở đây.  Nếu không, dám mấy-ổng dắt mình đi luôn.

      - Bởi vậy.  Tôi làm công chức chứ có phải là công an, cảnh sát hay xã ấp gì, nhưng bụng dạ mấy-ổng biết đâu mà lường.

      - Ngày mai mình dẫn hai đứa nhỏ về Phan Thiết liền.  Nay mai, không biết chừng nào mấy-ổng ra ruộng thâu mua, tôi sợ mấy-ổng bắt mình.  Tôi đàn bà, dễ chống trở với mấy-ổng.  Tôi không ngờ mấy-ổng chờ mình vừa gặt xong là đưa lệnh thâu mua liền.  Không biết mấy-ổng để lại cho mình bao nhiêu đây.

      - Mình coi thu xếp chở phần lúa của mình về Phan Thiết sớm chừng nào hay chừng đó.  Ở đây rồi cũng có ngày không tránh làn súng họng bom, dễ gì quân đội để mấy ổng tự do tung hoành.

***

      Tiếng khóc từ nhà ông Hai Cảnh Sát đáng thức giấc ngủ vừa chợp mắt vì tiếng chó sủa lúc rân vang gần kề lúc văng vẳng cuối ấp cả đêm, dì Tư Xuân bật ngồi dậy, nghe ngóng.  Nhổm người, dì Tư Xuân với tay hất cái chốt lên, đẩy cánh cửa sổ ra phía ngoài.

      Nằng ban mai còn quá yếu làm ánh mắt dì Tư Xuân không thể phóng xa hơn cây gòn sừng sửng làm ranh giới giữa nhà dì và khu đất cỏ hoang cao ngang đầu gối đang ngả màu vàng úa quanh phòng y tế.  Cửa sổ mở rộng nên tiếng khóc đám con và vợ ông Hai Cảnh Sát xuyên màn sương mai còn dầy đặt, vang mồn một làm tăng nỗi  lo sợ của dì khi nghe tiếng chó sủa thật gần đêm qua.  Mặc vội cái áo bà ba, quơ chân tìm đôi guốc vông quai nhựa màu nâu đậm, dì Tư Xuân tông cửa chạy ra.

      Cổng gỗ trước nhà ông Hai Cảnh Sát mở toang.  Thay vì vô nhà, dì Tư Xuân theo tiếng khóc chạy vòng ra vườn sau, hướng con suối, kêu to:
      - Mợ Hai… Mợ Hai… có chuyện gì vậy?

      Bên bờ suối, sương núi còn luyến lưu cây cỏ nhưng mặt trời thì đang lấp ló phía sau ngọn núi Ông sừng sửng oai nghiêm ban những tia sáng tờ mờ đủ cho Dì Tư Xuân nhận ra bốn thân hình quỳ phủ chụp lên một thân người.  Vợ ông Hai Cảnh Sát quay lại, thấy dì Tư Xuân, nức nở kể:
      - Mấy ổng bắt ảnh hồi hôm.  Nghe tiếng súng nhưng em không dám ra, chờ mấy-ổng đi thiệt xa em mới chạy ra.  Ảnh chết tại chỗ chị Tư… ảnh chết tại chỗ chị Tư…

      Tiếng “chết” như xác nhận rõ ràng hơn thực trạng từ đây không còn chồng, không còn cha làm bốn mẹ con khóc to hơn.  Dì Tư Xuân lại gần.

      Xác ông Hai Cảnh Sát nằm xấp, cái quần đùi trễ xuống phơi bày toàn vẹn tấm lưng trần không một vết máu, gương mặt nghiêng một bên, hai tay vẫn còn bám mặt đất.  Phụ lật cái xác, dì Tư Xuân giật mình thụt lui, bốn mẹ con rống to trước hình ảnh lồng ngực và phần cổ vỡ toang bê bết máu.  Ánh nắng ban mai như cũng cố lách mình xuyên qua ngọn núi Ông oai nghiêm nhưng không đủ sức bảo vệ người cha của bày trẻ thơ, tò mò chiếu những tia nắng tờ mờ trên gương mặt còn mang nét hãi hùng và đôi mắt trừng trừng như muốn cố mang hình ảnh người vợ và ba con nhỏ vào tâm khảm trong trong giờ phút thứ hai mươi lăm của đời mình.

      Mơ hồ, Quỳ nhận ra bàn tay thằng Nghĩa nằm trong tay mình, nó kéo Nghĩa sát lại.  Hai anh em lui vài bước.  Tiếng nấc thỉnh thoảng ức lên từ cuống họng trong khi hai anh em lặng yên theo dõi má và bác Tư Xuân cố kéo tay, kéo chân, sắp xếp cho xác ba nằm được ngay ngắn.

      Quỳ đã nín khóc hẳn, nó xoay đầu về phía dãy núi Ông sừng sững đang lộ dần sau màn sương trắng đục.  Ánh mắt Quỳ trừng trừng lướt chậm trên sườn núi như cố tìm bóng dáng những người mặc áo bà ba đen, đầu đội nón vải, vai đeo túi vải, tay chĩa khẩu súng dài thúc vào lưng ba nó bắt đi ra khỏi nhà khi ông chậm bước chân nhìn hai anh em nó ngồi co rút trên bộ ván gần bếp.  Ánh đèn dầu tờ mờ nhưng đủ để Quỳ nhận ra sự hoảng hốt lẫn buồn bã vô tận trong ánh mắt, trên gương mặt ba.

      Đầu óc Quỳ đầy đặc dấu hỏi đỏ đen.  Tại sao mấy-ổng bắt ba mình đi mà không cho mặc áo quần?  Tại sao mấy-ổng giết ba mình?  Từ hồi nhà mình dọn lên đây, ba mình chưa bắt ai, chưa đánh ai chứ đừng nói chi giết người.  Cái ấp Đồng Kho này yên tĩnh bấy lâu nay.  Người thượng hiền lành, bà con thương nhau nên ba mình và chú Hành, chú Tám tiếng là cảnh sát nhưng súng cất hộc tủ, cả ngày phải lo làm rẫy làm ruộng mới đủ sống.  Vậy thì tại sao mấy-ổng bắn ba mình chết?

***

      Dần dần, không một chiếc xe đò nào chạy ngang Đồng Kho và Tà Bao, không còn người nào từ Tánh Linh dám thường xuyên lên Đồng Kho hay Tà Bao để đổi cá khô, đường, muối với gùi măng, gùi bắp hay con nai rừng sập bẫy…  Người dân ở đây chỉ biết dựa vào thiên nhiên mà sống qua ngày.  Nhưng thiên nhiên không thể dâng tặng hết nhựa sống của mình cho bà con vì rừng núi đã bị những người đội mũ tai bèo và mang súng AK chiếm giữ, con sông La Ngà khô nước mùa nắng gắt.  Dân tình ai nấy lặng lẽ ngơ ngác, từ xóm thượng vườn tược lơ thơ đến những gia đình người kinh dọc con đường lộ chính.

      Dì Tư Xuân cố bám víu, lên xuống vài bận để thăm dò tình hình.  Lính quốc gia không còn màng đến Đồng Kho hoang tàn nữa.  Năm ba lính Việt Cộng thỉnh thoảng đẩy cửa nhà dân, hôm thì để tìm bữa cơm nóng, hôm thì thâu mua lúa mùa và trả bằng tờ giấy “chứng nhận”...

      Chứng kiến cảnh dân nghèo đói bí đường sống, bài hát Anh Đi Chiến Dịch thức dậy trong đầu dì Tư Xuân, nghe thật vừa mỉa mai, vừa não lòng: Anh đi chiến dịch xa vời - Lòng thương nhân đạo cứu người lầm than - Thương dân nghèo đồng hoang cỏ cháy - Thấy nỗi đớn đau của kiếp đọa đầy… Dì Tư Xuân than thầm: Đây, dân Đồng Kho lầm than.  Đây, ấp Đồng Kho đồng hoang cỏ cháy.  Có ai ngó tới, có ai đoái hoài?

***

      Dì Tư Xuân nghe lời chồng, bỏ tất cả.  Dì bỏ căn nhà tole có vườn thơm bao quanh, với dự định tu bổ tươm tất cho đàn con sáu đứa có nơi mà mặc sức chạy chơi giữa núi rừng thiên nhiên bù trừ những tháng ngày miệt mài sách vở, có chỗ cho chú Tư Xuân nghỉ ngơi thoải mái sau những ngày vừa đi làm vừa thay vợ lo cho con.

      Dì bỏ hai mươi mẫu ruộng đất đen mịn, rộng đến độ đám con than mỏi chân vì đi hoài mà chưa tới đầu ruộng kia, vừa được khai khẩn, chưa đền bù được một phần nhỏ để an ủi công lao và tiền của dì đã bỏ ra.  Dì bỏ giấc mộng mà dì và ông Giáo thường bàn bạc những đêm rảnh rang là sẽ mở trường học cho đồng bào thượng.  Bỏ hết.

      Dì Tư Xuân tay trắng trở về Phan Thiết.  Không những trắng tay mà còn nợ nần chân chất, nợ ngân hàng, nợ em rể, nợ mẹ ruột, nợ mẹ chồng… Không còn một đồng vốn làm ăn, dì Tư Xuân cắn răng nhẫn nhục hợp tác với vài người bạn hàng nhà máy xay lúa mới ra nghề.

      Là một người lão làng trong nghề, nông dân vùng quê quanh thị xã Phan Thiết như Ngã Hai, Phú Hội, Đại Nẫm, Lại An… dần dần trở thành mối hàng thân tín và trung thành của dì Tư Xuân.  Mỗi năm, nếu cần tiền xoay trở mua phân hay chi tiêu, nông dân mượn trước dì Tư Xuân, đến mùa thì kêu dì lên đong lúa, giá thị trường.  Cho nên, năm này qua năm kia, dù mượn trước hay không mượn, cứ đến ngày gặt là bà con nông dân nhắn tin để dì Tư Xuân lên đong lúa.

      Càng lão làng, mối lúa của dì Tư Xuân càng đông và những bao lúa cỡ trăm kilo mang dấu hiệu HT đỏ ở góc phải chất cao ngất và chiếm nhiều chỗ trong kho của nhà máy xây lúa thị xã.  Lúa mua về chất đó, được xay bán lai rai cả năm cho các sạp gạo ngoài chợ.

      Bây giờ không còn vốn, dì Tư Xuân phải hợp tác với người có vốn nhưng không có mối hàng cung cấp lúa.  Người ta trẻ, non tay nghề và không có mối hàng nhưng có vốn, trong khi Dì Tư Xuân là tay lão làng trong nghề và nắm hàng trăm mối quanh thị xã Phan Thiết nên tiếng là hợp tác nhưng thực chất là làm công.  Làm công cho một người trẻ hơn, non tay nghề hơn mình là một điều nhục nhã nhưng dì Tư phải cắn răng vì dì muốn lũ con sáu đứa của dì được tiếp tục áo lụa quần là, được chạy xe Honda xanh tươi đi học như con người ta.

      Nhưng chú Tư Xuân thực tế hơn.  Nhìn con đường cơm áo của gia đình đang xuống dốc, khó mà chu cấp cho lũ con sẽ lần lượt vào Sài Gòn để tiếp tục chuyện học hành, chú Tư Xuân xin chuyển vô Sài Gòn, bắt đầu gầy dựng chân đứng mới.

      Gia đình phân tán.  Thuận, Thảo và đứa con trai út vào Sài Gòn sống với ba.  Thi, Thông, Nga và đứa con gái út sanh sau đẻ muộn lo sợ bấu víu nhau trong căn nhà dài thăm thẳm luôn vang rộn tiếng cười đùa nay bỗng dưng trở nên hoang vắng lạ thường trong những ngày dì Tư Xuân phải xa nhà đi hàng chuyến.

      Cuối cùng, lũ con ngơ ngác khi nghe ba má báo tin căn nhà thân yêu Phố ba Mươi Căn đã bán.  Nhưng bù lại, niềm vui sum họp thì tràn đầy trong căn nhà nền gỗ thật khiêm nhường cạnh bờ sông nồng mùi bùn cơn nước cạn và mênh mông ghe thuyền qua lại cơn nước lớn, bên kia chợ Hòa Bình.

***

      Những tưởng Đồng Kho cũng như giấc mộng điền chủ đã trở thành một chương trong quyển sách lịch sử gia đình sau khi gia đình đi vào nếp sống bình an bằng đồng lương công chức và hàng sạp dì Tư Xuân gầy dựng từ từ đang hồi phát triển.  Nhưng không, không ai hiểu được sợi dây huyền bí giữa dì Tư Xuân và cánh đồng ngút mắt Đồng Kho.  Cuối năm 1973, nghe tin quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chiếm lại Tánh Linh, đời sống ấp Đồng Kho trở nên yên ổn xanh mát và sau một chuyền thăm dò, dì Tư Xuân quyết định trở lại, gạt phắt lời khuyên của chồng.

       Khuyên thì khuyên nhưng chú Tư Xuân luôn ủng hộ vợ trong mọi phương án làm ăn nên chú quyết định nhận trọn lương hưu một lần thay vì lãnh mỗi năm.  Dì Tư Xuân cầm số tiền hưu của chồng, gom hết vốn liềng, bán hai chiếc xe Honda, mượn thêm tiền ngân hàng, một thân một mình trở lại Đồng Kho.

      Kinh tế gia đình đi vào con đường hầm đen tối nhưng chú và dì Tư Xuân nhìn thấy ánh sáng hy vọng nhấp nha bên kia đường hầm nên lủ con vẫn được tiếp tục vô tư nhởn nhơ trong lụa là đàn ca trong lòng Sài Gòn.

      Trong vài tháng, bàn tay người đàn bà vừa tròn năm mươi biến cánh đồng hai mươi mẫu qua tám năm ngập cỏ dại thành cánh đồng lúa mát tươi khiến ai ai nhìn thấy cũng khâm phục và ước ao.  Đất đã thuần, kinh nghiệm cùng đã dầy nên cánh đồng càng ngày càng nhởn nhơ xanh tươi dưới nắng ấm mưa hòa.  Trong khung cảnh bình an giả tạo, những hạt lúa bắt đầu mọng sữa làm ngọn lúa vốn yếu ớt phải cong mình chịu cơn nắng cuối năm.

      Cành lúa càng trĩu cong, lòng dì Tư Xuân càng ngập niềm sung sướng vì ước mơ mỗi đứa con có được phòng riêng trong một căn nhà vườn cây phủ bóng mát ở ngoại ô Sài Gòn mà dì đã âm thầm thêu dệt, đang gần tầm tay với.  Khi màu xanh hạt lúa đang chuyển mình sang màu vàng tươi, dì Tư Xuân về Sài Gòn thăm coi nhà cửa và chuẩn bị lương thực cùng tiền bạc cho mùa gặt.

      Phước Long thất thủ.  Việt Cộng mở chiến dịch Tánh Linh – Hoài Đức và Thượng Đức – Quảng Nam.  Trong vòng vài ngày, Tánh Linh thất thủ, Đồng Kho lọt vào tay Việt Cộng.

      Lòng dì Tư Xuân như bị lửa đốt.  Không chờ được nữa vì lúa đang chín vàng, Dì Tư Xuân lên ngã Ba Ông Đồn, băng đường bộ mấy ngày trường, bất chấp hiểm nguy, xuyên qua ranh chiến sự đang nóng bỏng để tìm đường lên Tánh Linh.

      Đến nơi thì Việt Cộng vừa gặt hết cánh đồng hai mươi mẫu lúa vàng nặng trĩu.  Họ gặt sạch không chừa một cọng lúa.  Họ chở lúa đi nơi khác, không bỏ sót một hột.

      Thất thơ, Dì Tư Xuân tìm gặp Ban Kinh Tài Quân Khu 6 thì được một tờ giấy chứng nhận với nội dung là “Chính quyền cách mạng và Quân Khu Sáu mượn số lúa hai mươi mẫu này.”  Dì Tư Xuân không được trả một đồng, không được chia cho một thúng lúa để gọi là an ủi hay biết ơn.

      Mất hết.

      Việt Cộng giải phóng Tánh Linh nên có quyền sử dụng tài sản ruộng đất cũng như mùa màng ở Tánh Linh.  Đơn giản là vậy!  Đương nhiên là vậy!

      Ánh sáng bên kia con đường hầm tắt ngủm, đứt đoạn trong khi Thông đang dạy học ở Phước Long bị mất tích cùng ngày Phước Long thất thủ, đến nay cũng không một mảy may dấu vết.  Dì Tư Xuân trắng tay trở về Sài Gòn nhưng vẫn không quên mớ măng khô, bao nếp thơm để lo Tết cho chồng con.

      Một cái Tết thiếu thằng con trai trưởng, thiếu thốn mọi điều.  Để trong đêm khuya khi đàn con đã yên giấc, nước mắt người đàn bà một đời bương bả vì ước mơ cơm thơm áo đẹp cho chồng con hòa lẫn nước mắt người đàn ông một đời luôn là bờ vai vững mạnh cho vợ tìm dựa và là bàn tay vững chãi dìu dắt đàn con.  Mặn chát.

***

      Mất hết.  Không những dì Tư Xuân bắt tay gầy dựng lại từ con không mà là từ con số trừ trong khi tình thế Sài Gòn đang hồi sôi động trước khi thật sự thất thủ.  Dầu cho đời sống lâm vào cảnh cơm mắm rau xanh nhưng dì Tư Xuân vẫn ráng giữ người làm trong nhà để con cái tiếp tục được rảnh rang mà học hành, mà nhởn nhơ với bạn bè.

      Lần trắng tay này cũng như lần trắng tay trước, dì Tư Xuân chỉ biết khóc trong tay chồng đêm khuya vắng, không bao giờ để lộ sự âu lo cho con cái thấy, không bao giờ phàn nàn hay oán trách khiến con cái phải chịu lay nỗi buồn lo của ba má.  Cùng chồng, dì Tư Xuân chăm chút con đường các con đi luôn xanh mát.  Dì Tư Xuân dang đôi bàn tay che nắng, dì mở rộng cánh tay che mưa để chú Tư Xuân dẫn dắt đàn con trên con đường hoa thơm cỏ mịn.

      Và Đồng Kho?  Không, dì Tư Xuân không quên một cách dễ dàng.

      Nghe tin chính quyền mới ở Bình Thuận đưa dân lên Tánh Linh mở vùng kinh tế mới và Đồng Kho nay mang tên mới là xã Đoàn Kết được trưng dụng, dì Tư Xuân trở lại.   Nhìn cánh đồng hai mươi mẫu của mình được canh tác dưới hình thức hợp tác xã, dì Tư Xuân tự coi như mất hẳn, nhưng niềm hãnh diện thì tràn đầy vì người dân đang sống nương tựa vào mảnh đất đã được tẩm mồ hôi của dì, đã được san bằng vun sới bởi đôi bàn tay của chính dì.

      Dì Tư Xuân tìm cách liên lạc với ông kinh tài Bình Thùng để đòi số lúa Việt Cộng đã mượn năm 1974.  Ông Bình Thùng, Thùng có nghĩa là thùng đựng lúa vì trong thời chiến tranh ông là kinh tài thu lúa của người dân quận Tánh Linh và Hoài Đức cho Việt Cộng, nay là bí thư huyện Đức Linh, chuyển đơn của dì Tư Xuân lên Ủy Ban tỉnh Thuận Hải.  Ủy ban tỉnh Thuận Hải chuyển đơn lên Quân Khu 6.  Từ đó, không cơ quan nào còn nghe tới lá đơn đòi nợ của dì Tư Xuân nữa.  

      Nhưng sợi dây nối Đồng Kho và dì Tư Xuân được kết lại sau chiến tranh.  Dì Tư Xuân trở thành người buôn chuyến, cung cấp hàng hóa cho các tiệm tạp hóa dọc đường lộ chính huyện Đức Linh.  Và Đồng Kho trở thành quê hương thứ hai của riêng dì Tư Xuân.

***

      Theo thời gian, xã Đồng Kho càng lúc càng đông, ruộng đất càng mở rộng và “dì Tư Xuân” vẫn còn được nhắc tới trên miệng ông-nội-bà-ngoại của những thanh niên thiếu nữ đang sinh sống trên mảnh đất giữa chân núi Ông sừng sững và giòng sông La Ngà nước đục phù sa.

Được viết sau khi dì Tư Xuân thảnh thơi giã từ con cháu, theo tiếng gọi của chồng từ cõi vĩnh hằng.

Mùa Vu lan 2009
Võ Thị Điềm Đạm


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Vừa nhắm vào văn hoá viết vừa nhắm vào văn hoá đọc, trong cuốn sách này, đề cập đến mấy vấn đề chính: vai trò của lý thuyết, chức năng điển phạm hoá (canonization) và giải điển phạm hoá (decanonization) của phê bình, nhu cầu đổi mới, đề tài chiến tranh trong quan hệ với hiện thực và với quá trình tái cấu trúc ký ức tập thể, ý nghĩa của văn hoá tục, tính văn bản và liên văn bản của văn học, lưu vong với tư cách một phạm trù mỹ học, và cuối cùng, việc du nhập chủ nghĩa hậu hiện đại vào văn học Việt Nam. Ðó là những vấn đề căn bản và quan trọng nhất hiện nay.

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu

Giới thiệu

Giới thiệu
Tìm hiểu về văn học lưu vong, do đó, thực chất là tìm hiểu về tính chính trị, thi pháp và ngữ nghĩa học của gạch nối (semantics of the hyphen). Cái dấu gạch nối ấy là cái ở giữa (in-betweenness), là không gian xuyên quốc gia (transnation), xuyên văn hoá (transculture) và xuyên ngôn ngữ (translanguage).