Sông Mã cuồn cuộn chẩy
chiếc mảng đã xa bờ
em không quay đầu lại
cuộc tình hay cơn mơ...
Trần Mộng Tú
Hiếu
sực tỉnh vào quãng nửa đêm khi chuyến tàu hỏa băng
qua một cây cầu sắt ngắn. Ở cuối giấc mơ tiếng còi
tàu nhỏ dần hút về miền xa, chàng bật dậy trong tiếng
loảng xoảng của kim khí va chạm, con tàu rung chuyển rầm
rộ qua cầu rồi lại vụt êm, đều đều rũa bánh trên
đường ray.
Hiếu
nhìn ra ngoài. Bóng tối mênh mang. Dán sát vào mặt kính
khi quen mắt cảnh vật hiện ra tỏ dần dưới ánh trăng.
Trong sương đêm con trăng tròn và to rọi ánh nhạt nhoà.
Đồng ruộng, lũy tre, triền đồi, bãi sông... lướt qua
trong lúc con tàu ầm ầm lao đi trong đêm tối. Mỏng và
dài phía chân trời là dải Trường Sơn im lìm bất động
nhưng con trăng vắt ở cao thì hình như cùng với đoàn
tàu lãng đãng trôi đi trên các đỉnh núi xa. Trong đêm
đen thỉnh thoảng một ánh lửa loé rồi vụt tắt, một
tàn lửa kéo dài chập chờn.
Trong
toa đèn bật nhưng không rộ sáng. Bọc trong lưới sắt
ngọn đèn trên nóc leo lét tỏa ánh vàng trên khuôn mặt
hành khách. Dọc theo hai bên toa tàu là một dẫy những
ngăn nhỏ, mỗi ngăn có bốn ghế da đôi mặt mỗi bên
hai ghế qua một cái bàn nhỏ. Chính giữa là lối đi. Đối
diện Hiếu qua mặt bàn là một cặp vợ chồng già đang
ngủ. Người vợ nghẹo đầu gục trên vai chồng, trong
lúc ông này ngửa cổ trên thành ghế, ngáy khò khè, miệng
há hốc, chiếc đầu lắc lư theo từng cú nẩy của con
tàu. Trong bốn ghế ở ngăn bên kia thì hai ghế trống,
hai ghế còn lại phía đối mặt chàng một người đàn
bà trẻ ngồi chống khuỷu tay lên bàn nhìn ra ngoài cửa
số, trên ghế cạnh một đứa bé co chân nằm ngủ, đầu
gốí trên đùi người đàn bà.
Hiếu
chú ý ngay đến người thiếu phụ này. Không hẳn vì
nhan sắc của nàng mà vì nàng là người duy nhất còn
thức trong khi mọi hành khách khác đều say ngủ. Ngoài ra
cái dáng ngồi tư lự của người đàn bà này, tay chống
cằm nhìn miết vào đêm tối, cho thấy như nàng đang có
một tâm sự buồn. Khuôn mặt thanh tú, đôi má mịn màng,
hai cặp môi mọng thì môi dưới hơi trề ra như nũng nịu,
đôi lúc răng nàng lại khẽ cắn vào môi dưới như thể
nàng đang có điều gì suy nghĩ. Nàng có cái vẻ đẹp
căng rộ của người đàn bà vào thời đỉnh điểm. “Gái
một con trông mòn con mắt”. Hiếu nghĩ và đột nhiên
thấy khuôn mặt ấy có đôi nét hao hao giống một người
con gái nào đó đã đi qua đời chàng trong quá khứ.
Cặp
vợ chồng già và hai mẹ con là những hành khách mới lên
từ ga Thanh Hoá trong chuyến tàu xuôi nam khởi hành từ Hà
Nội. Trước đó trong toa không có một ghế trống. Trong
hai ngăn tám ghế thì bẩy ghế thuộc về một đám hành
khách từ Hà Nội đáp tàu đi nghỉ mát ở bãi biển Sầm
Sơn. Đám đó gồm hai cặp vợ chồng trẻ và ba đứa
nhỏ. Họ xuống ga Thanh Hoá vào buổi chiều tối.
Từ
Hà Nội đến ga này Hiếu ngồi một mình lạc lõng trong
đám người trẻ tuổi. Gần suốt cuộc hành trình chàng
nhìn ra ngoài cửa sổ. Thỉnh thoảng Hiếu lấy ra từ
trong ba-lô cái máy ảnh rồi hai tay nâng máy chụp vài pô
phong cảnh bên ngoài. Chụp xong chàng đặt máy ảnh trên
đùi. Lâu lâu thấy cảnh lạ trên tàu, vẫn để máy trên
đùi chàng khẽ nâng ống kính lén chụp vài bức. Là một
nghiếp ảnh gia tài tử Hiếu thường về Việt Nam chụp
ảnh. Lần về này chàng đã để gần một tháng chụp
phong cảnh miền thượng du miền biên giới Việt Hoa. Lộ
trình đi chụp ảnh của chàng là con đường cánh cung Lai
Châu-Lào Cai-Hà Giang-Cao Bằng. Sau đó chàng đáp chuyến
tàu xuyên Việt này, dự tính sẽ bay trở về Mỹ từ
thành phố Sài Gòn.
Chiếc
máy ảnh của Hiếu có ống kính dài để trên đùi mãi
cũng thấy nặng chàng đặt máy lên bàn, điều chỉnh sẵn
ống kính và tốc độ để nếu cần có thể chụp thật
nhanh. Mấy đứa trẻ xem ra có vẻ khoái cái máy ảnh đồ
sộ của chàng. Một đứa tò mò nhổm người thò tay toan
cầm chiếc máy bị mẹ nó quắc mắt bẻ gập cánh tay ra
sau. Thằng bé mặt tiu nghỉu. Hiếu vẫy nó lại gần. Cầm
máy soát lại mấy bức ảnh chụp lén lúc trước chàng
đổi tay nắm ngang ống kính xoay ngược máy giơ màn ảnh
dí vào mặt thằng bé. Nó há hốc mồm nói to:
–
Ảnh con bố mẹ ơi! Lại có ảnh của thằng Tèo nữa
này!
Ở
ngăn bên kia hai thằng bé nhổm qua nhìn vào máy. Thằng
Tèo quay lại nói với mẹ:
–
Mẹ ơi, ông này chụp cả ảnh con đang ăn kem đây này.
Rồi
nó quay qua Hiếu năn nỉ:
–
Ông cho cháu bức ảnh này đi!
Hiếu
nói:
–
Cháu nói với mẹ cho bác địa chỉ. Bác sẽ gửi đến
tận nhà.
Rồi
quay qua mẹ thằng Tèo chàng nói:
–
Chị cho tôi địa chỉ e-mail. Như vậy nhanh hơn.
Người
đàn bà nói với chồng, một thanh niên ngồi đối diện
Hiếu:
–
Anh cho bác đây cái e-mail của anh đi.
Anh
ta viết e-mail đưa cho chàng:
–
Xem ra bác là tay nghề chụp ảnh. Nhìn cái máy của bác
là tôi biết.
Xong
anh ta lôi trong sắc tay một máy ảnh để trên bàn nói:
–
Tôi cũng thích chụp ảnh lắm. Cái máy này tôi mới mua
tính để chụp ở Sầm Sơn, nhưng chưa rành cách xử
dụng. Nếu được bác chỉ cho cách dùng thì hay quá!
Liếc
qua Hiếu biết ngay cái máy canon này thuộc loại khá tốt.
Chàng cầm máy ảnh của anh ta giơ ra ngoài cửa sổ. Ở
bờ một con sông nhỏ hai con trâu đang đi xuống nước,
chàng bấm máy chụp liên tiếp hai ba bức rồi trao máy
lại cho anh ta. Sau khi chỉ cho anh ta cách xử dụng máy
Hiếu nói thêm về nhiếp ảnh và cách tạo hình nghệ
thuật. Anh ta tỏ vẻ chăm chú theo rõi.
Hai
người mê mải nói chuyện. Chiều xuống lúc nào không
biết. Hiếu cho anh ta xem vài tấm ảnh chàng chụp ở
Sapa:
–
Anh để ý xem những tấm ảnh này tôi đều chụp vào lúc
bình minh hay lúc chiều tà. Tôi tránh chụp lúc buổi trưa
khi mặt trời đứng bóng, đẹp nhất là cảnh xế chiều
lúc đó ánh nắng xiên tạo chiều sâu cho bức ảnh.
Đến
đây anh thanh niên xem đồng hồ tay rồi xây qua nói với
vợ:
–
Chắc sắp đến ga Thanh Hoá rồi. Em cho chúng nó sửa soạn
để xuống tàu.
Rồi
quay qua Hiếu anh ta nói:
–
Bác cầm máy theo tôi ra ngoài này. Chốc nữa tàu sẽ băng
qua một cây cầu dài rất nổi tiếng. May ra thì chụp
được ảnh cây cầu trước khi mặt trời lặn.
Hai
người hai máy ảnh đi ra cuối toa đẩy cửa bước ra
ngoài đứng chỗ khoảng trống tiếp giáp giữa hai toa
tầu. Bên ngoài không gian òa vỡ. Mùi khói khét lẹt. Con
tàu rầm rập nghiến trên đường sắt. Cột điện, mái
nhà, bụi chuối, lũy tre... vùn vụt lướt qua. Về hướng
tây mặt trời xuống thấp trên đỉnh núi xa. Đến một
khúc quanh đầu tàu thúc còi. Bỗng phía trước mặt một
bãi sông mở ra bát ngát. Chĩa máy phía trước anh thanh
niên la to nhưng giọng anh ta bị át trong tiếng còi hụ
kéo dài khiến Hiếu chỉ nghe được loáng thoáng mấy
tiếng “Cầu Hàm Rồng... Sông Mã...”. Ngay sau đó hiện
ra một cây cầu sắt dài và phẳng, cây cầu hùng vĩ ánh
lên màu thép trong ráng chiều. Chàng chụp cầu Hàm Rồng
rồi chĩa máy trên sông Mã lấy toàn cảnh con sông từ
gần ra xa. Phía chân cầu con sông rộng cuồn cuộn chẩy.
Về hướng tây sông nhỏ dần êm đềm mất hút về phía
những rặng núi xa ở chân trời.
Nơi
chân trời xa ấy... ở cuối dòng sông Mã kia...
Cả
một thời quá khứ bỗng vụt hiện. Xẹt trong trí chàng
hình ảnh máy bay Mỹ nhào lộn trên không trung thả bom
tinh khôn phá hủy cây cầu Hàm Rồng vào thời cao điểm
của cuộc chiến tranh Việt Nam. Vụt một cái con sông Mã
làm Hiếu sống dậy cả một vùng trời quá khứ thời
hậu chiến trong những năm tháng dài chàng ở trong trại
lao tù Thanh Cẩm.
Đã
bao nhiêu năm trôi qua... từ dạo ấy… đã bao nhiêu nước
của con sông Mã chẩy dưới chân chàng, qua cây cầu Hàm
Rồng này...
Sau
khi ngừng ở ga Thanh Hóa thả đám người đi tắm biển
Sầm Sơn, con tàu tiếp tục xuôi nam trong bóng đêm. Hiếu
ngồi tư lự, không buồn để ý đến bốn hành khách vừa
mới lên tàu. Với dòng sông Mã in trong trí tưởng, chàng
nhớ lại những ngày xưa cũ... Theo với đà hồi tưởng
con sông Mã hung hãn mất dần đi đợt sóng dữ, trả lại
mặt sông vẻ thanh thản mịn màng của nó như làn da của
người con gái bên sông mà chàng đã từng yêu.
Trại
Thanh Cẩm nằm sát bờ hữu ngạn của sông Mã. Từ cổng
trại đám tù nhân sau một ngày lao động mệt nhoài
thường xuống tắm và giặt rũ trên con sông ấy, nhìn
sang bên kia sông là bờ cỏ, là rừng cây và xa hơn nữa
là rặng núi xanh cao sững chắn ngang tầm mắt. Lưng chừng
núi há ra một cái hang mà tù nhân tắm dưới dòng sông
Mã nhìn thấy rất rõ, dân địa phương ở đây gọi là
Hang Cháy. Vào mùa nước lũ con sông Mã đục ngầu lồng
lộn chẩy xiết như “ngựa phi” là một đe dọa lớn
cho những tù nhân toan tính trốn trại. Nhưng trong ký ức
chàng dòng sông ấy óng lên một vẻ đẹp êm đềm hiền
hoà.
Vẻ
êm đềm ấy phải chăng là do kết quả của mối tình
đẹp và ngang trái xẩy ra giữa chàng và người con gái
tên Hà trong trại Thanh Cẩm khiến ngoại cảnh như được
thăng hoa: sông Mã trở nên hòa dịu, đời tù vẫn còn
đáng sống, và ngay cả cán bộ thứ dữ dằn nhất cũng
đôi lúc có vài nét đáng yêu. Câu chuyện về mối tình
nẩy nở giữa Hiếu, một tù nhân cải tạo, với Hà, vợ
của một cán bộ xây dựng được lan đi trong trại Thanh
Cẩm như một câu chuyện hoang đường không có thực.
Trong hoàn cảnh lao tù mà cơn đói, bệnh tật và cái chết
đã thường trực ám ảnh con người, ngay cả tình yêu
trong tưởng tượng cũng bị xem là viễn mơ, thì câu
chuyện tình có thật nẩy nở giữa một tù nhân “ngụy”
và vợ của cán bộ cộng sản là chuyện không ai nghĩ là
có thể xẩy ra.
Năm
1979 khi xẩy ra cuộc chiến tranh Việt Hoa thì các tù nhân
bị giam ở một số trại gần biên giới được di chuyển
về hướng nam đến trại giam Thanh Cẩm thuộc tỉnh Thanh
Hoá. Năm đầu cuộc sống trong trại này cực kỳ khốn
khó, căng thẳng, nhưng qua những năm đầu thập niên 1980
thì tình hình đã có triệu chứng thay đổi và dễ thở
hơn. Tù bắt đầu được nhận quà từ gia đình và được
gia đình đi thăm nuôi. Tù nhân được phân công thành
nhiều Đội làm công tác lao động. Hiếu được chỉ
định làm Đội phó cho đội 7 Rau Xanh. Trong khi đó thì
Hà là nhân viên nấu ăn trong khu nhà bếp của “Khung”.
Khung là chữ gọi tắt của Ban Chỉ Huy Trại. Hà người
xinh xắn, trắng trẻo. Chồng Hà là chuẩn úy Sơn, cán bộ
xây dựng. Đó là một người đàn ông gầy và hơi xanh
xao, nghe nói rất sợ vợ. Thời gian làm việc tại trại
Thanh Cẩm họ chưa có con. Theo quy định của Trại thì tù
nhân phải gọi vợ của các cán bộ là Cô và xưng tôi.
Ngược lại họ cũng xưng tôi và gọi các tù nhân bằng
Anh.
Hai
người quen nhau là do cơ duyên này. Cô Hà thường ra các
đội Rau Xanh để xin các thứ rau loại vứt đi để mang
về cho lợn ăn. Khi đến Đội Rau Xanh của Hiếu, thấy
cô là người trắng trẻo dễ thương chàng có cảm tình
nên thay vì cho cô những loại rau già vất đi chàng cố ý
“độn” thêm một số rau tươi, rau này tùy mùa có thể
là rau cải hoặc đậu... Hiếu chắc là Hà cũng để ý
đến chàng và ghi nhận những “món quà rau” mà chàng
ngầm tặng cô. Có lần Hiếu đề nghị gánh rau mang về
tận nhà cho cô Hà và cô vui vẻ để cho chàng gánh. Chính
tại căn nhà gỗ ở ven rừng sắn này là địa điểm mây
mưa của hai người sau này khi tình yêu đã chín mùi và
khi chồng của cô Hà đi công tác xa. Đội 7 Rau Xanh của
Hiếu ngoài các mẫu đất trồng hoa màu đặc biệt có
khoảng ba, bốn sào trồng đậu xanh. Ngoài ra kế cận Đội
7 là Đội 4 Rau Xanh có khoảng hai ba mẫu cũng trồng đậu
xanh. Đến mùa thu hoạch, chàng thường dẫn một toán của
Đội 7 mang đậu về kho của Ban Chỉ Huy Trại. Cùng đi
với chàng có Bùi, Đội Phó của Đội 4, cũng dẫn một
toán mang đậu về kho của “Khung”. Vì đậu xanh là
thực phẩm “cao cấp” nên ai cũng muốn “chôm chỉa”
kể cả cán bộ và nhân viên nhà bếp. Hiếu chia sớt đậu
xanh cho họ, nhưng vì đội của chàng trồng có ba sào cho
nên nếu cho nhiều thì cũng sợ thiếu, nên chàng phải
lấy thêm đậu của Đội 4 cho. Đội 4 trồng tới ba mẫu,
năm đó lại trúng thời vụ, đậu xanh rất nhiều. Do đấy
mà Bùi và chàng có dịp tiếp cận và gần gũi với các
bà các cô làm việc ở nhà bếp của Khung, trong đó có
Hà, cô nấu bếp xinh đẹp.
Cuộc
tình giữa hai người nẩy nở lúc nào không biết. Mỗi
lần bà chị của Hiếu đi thăm nuôi và cho quà chàng
thường san sẻ biếu cô, có khi quần áo, có khi thức
ăn... Ngược lại cô Hà cũng hay nấu thức ăn đem lén
cho chàng gọi là để “bồi dưỡng”. Rồi tình cảm
thầm kín ấy giữa hai người một hôm kia bùng phát. Hôm
đó Hiếu có việc bất ngờ đến Khung gặp cán bộ Trí
để tường trình về kết quả công tác của Đội Rau
Xanh, nhưng Trí đi vắng. Lúc về qua nhà bếp chàng thấy
Hà đang rửa rau. Hiếu yên lặng tiến lại gần. Lúc ấy
bữa ăn trưa đã xong nên nhà bếp vắng hoe. Quen nhau đã
gần nửa năm nhưng chưa bao giờ hai người có dịp gặp
nhau riêng rẽ. Hà quay lại và khi thấy Hiếu nàng sững
sờ. Hiếu đảo mắt nhìn quanh và khi biết chắc không có
ai khác trong nhà bếp chàng quả quyết và liều lĩnh tiến
lại hai tay nắm hai bờ vai Hà cúi mặt xuống. Chàng bật
gọi “Cô Hà” rồi chuyển nhanh thành “Em...” trước
khi đôi môi hai người gắn chặt vào nhau. Hà vùng vẫy.
Một con mắt nàng sợ hãi mở to, tròng đen liếc xéo về
phía cửa, nhưng rồi toàn cơ thể của nàng dịu dần,
con mắt khép lại, chiếc rổ rau cầm tay rơi xuống đất.
Hiếu mê man trong cái hôn đầu tiên của cuộc đời tù
cải tạo.
Vài
tuần lễ sau đó Hiếu không gặp Hà. Chàng có cảm tưởng
là nàng tránh gặp mình. Sau hôm đó Hiếu nhớ nàng da
diết. Đồng thời một cảm giác lo âu xâm chiếm lấy
chàng. Nếu nàng không thuận mà lại mách với chồng thì
thật là một tai họa không sao mà lường.
Mấy
đêm liền phần vì nhớ Hà phần vì lo sợ Hiếu không
sao chợp mắt. Nằm trong trại giam nghe tiếng ngáy đều
đều của các bạn tù chàng chong mắt nhìn sâu vào đêm
tối. Trong đêm khuya từ phía sông Mã vang lên rõ mồn một
tiếng mõ “lóc cóc, lóc cóc...” của đám dân chài cá,
thỉnh thoảng lẫn trong tiếng mõ lại điểm thêm bốn
nốt rời rạc của một loài chim rừng kêu đêm, bốn
tiếng có âm vang “bắt cô trói cột... bắt cô trói
cột...”. Gần sáng chàng thiếp đi rồi choàng tỉnh
trong tiếng kẻng từ phía cổng trại đánh thức tù dậy
đi lao động.
Rồi
một buổi trưa kia Hà xuất hiện trong lúc Hiếu lao động
ở Đội 7. Nàng đến Đội Rau Xanh lấy rau già về cho
lợn ăn như thường lệ. Gặp Hiếu nàng không nói gì,
nhưng ánh mắt nàng nhìn chàng tha thiết khác thường
khiến mối lo sợ trong lòng chàng tan biến. Cách ăn mặc
của nàng cũng có vẻ khác. Chiếc áo cánh và chiếc quần
lĩnh của Hà nom cũng có vẻ tươm tất hơn. Khi hai sọt
đã chất đầy rau nàng ra hiệu cho Hiếu gánh giúp nàng
về nhà. Vì việc nàng nhờ chàng gánh rau đã xẩy ra
trong quá khứ nên không một ai, kể cả cán bộ quản
giáo Đội 7, để ý đến sự vắng mặt của chàng buổi
trưa hôm đó. Không như những lần trước, lần này nàng
xăm xăm đi thật nhanh khiến Hiếu phải vất vả mới
theo kịp. Trưa hôm ấy trời lại nóng gắt, chẳng mấy
lúc mồ hôi đổ sau lưng chàng. Hai người đi men theo con
đường mòn một bên là bìa rừng một bên là khu vực
trại. Đến một ngọn đồi trước mặt hai Đội 4 và 7
Rau Xanh, thay vì đi thẳng về hướng nhà nàng thì bỗng
nhiên nàng rẽ phải rồi đi thẳng lên đỉnh đồi.
Chặp
lâu sau đến một khoảng đất phẳng Hà dừng lại đợi
chàng đi lên. Tuy chưa tới đỉnh nhưng chỗ này đã khá
cao. Phía dưới xa thấp thoáng sau rừng cây chàng nhìn
thấy con sông Mã lấp lánh dưới nắng. Đặt gánh rau
xuống đất Hiếu ngừng lại thở dốc. Hà tiến lại cầm
lấy hai gánh rau và đòn gánh dấu vào một bụi cây gần
đó rồi ra hiệu cho chàng đi theo. Lấy tay rẽ lá hai đứa
luồn qua một bụi cây rậm rạp cao quá đầu người. Bên
kia bụi cây mở ra một khoảng đất tròn cỏ xanh mướt,
bao bọc xung quanh và trên đầu là lá cây che phủ, Hiếu
có cảm giác như mình vừa lạc vào một căn nhà vòm lá
xanh.
Đến
một gốc cây ở chính giữa khoảng đất trống Hà quay
người lại tựa lưng ngả đầu vào thân cây, đôi mắt
nàng mở lớn nhìn chàng tiến lại gần. Khuôn mặt nàng
hồng lên vì nắng, tóc xõa xuống trán bết ướt mồ
hôi. Vòng hai cánh tay sau gáy nàng, bàn tay vịn thân cây,
Hiếu nhìn sâu vào mắt nàng và thấy đôi mắt này bỗng
dại hẳn đi vì cảm xúc.
Không
trao nhau một lời tình tự hai đứa ôm ghì lấy nhau ngả
xuống cỏ trong hơi thở dồn dập như hai con thú rừng vồ
nhau vào mùa động đực. Tất cả chỉ còn là âm thanh
của gió rừng lao xao trên đồi, tiếng lá khô nghiến
dưới lưng, rồi đến tiếng hổn hển rên rỉ của loài
thú bị thương. Bàn tay thô bạo của bao nhiêu năm tháng
lao động nhọc nhằn đè lên đồi cỏ mịn màng căng
phồng, trườn xuống miền thâm u của khe suối róc rách,
người đàn bà cong lên run bần bật, cổ họng nàng thốt
lên một tiếng kêu ngắn và tắc nghẽn như một con ve
đang kêu bị một con chim nuốt chửng, chàng trút hết vào
người nàng tất cả sinh lực của chàng, cái sinh lực
cạn kiệt của một tù nhân sau bẩy năm trời cải tạo
khốn khó, rồi chàng thiếp đi...
Khi
chàng bật dậy Hà không còn đó. Hai gánh rau cũng biến
mất. Chàng hoang mang nhìn quanh. Buổi trưa hè trong cái im
phắc của khu rừng nổi lên tiếng vo ve vo ve. Một con ong
bay qua. Một con ruồi trâu xà đậu vào mặt. Trên cao kia
tia nắng chói lọi rọi thẳng vào mắt. Hiếu đứng dậy
người lảo đảo. Bò qua bụi rậm chàng tìm đường dẫn
xuống đồi, nhưng khi vừa tìm thấy con đường mòn đứng
dậy thì mắt chàng lại hoa lên. Chàng ngất xỉu. Trong
khi đó trên con đường mòn toán Đi Rừng của Đội 4 vác
nứa từ trên đồi về Trại.
Tin
tù nhân Hiếu bị xỉu trên đồi lan đi trong trại nhưng
không một ai thực sự biết chuyện gì xẩy ra giữa chàng
và Hà. Nhưng điều nguy hiểm là sau đó Hà không dấu
giếm cảm tình của nàng đối với chàng. Hà nấu ăn và
mang cơm cho chàng hầu như hàng ngày. Ăn không hết chàng
san sẻ với các bạn tù trong trại. Giấu giếm không được
Hiếu đành thổ lộ với vài người trong Đội Rau Xanh là
hai người “thương” nhau, nhưng mức độ thương ấy
như thế nào thì chàng không tiết lộ. Thời gian này Hiếu
và Hà do công việc thường phải đi cùng nhau sang bên Đội
4 Rau Xanh. Theo qui định của trại hai người không được
đi song hành, chàng bao giờ cũng phải đi trước hoặc đi
sau Hà. Nhưng kể từ ngày có sự cố trên đồi thì nàng
thích đi sánh vai chàng để nói chuyện khiến chàng sợ
hãi nhìn xung quanh xem có cán bộ nào lảng vảng gần đó
nhìn thấy không rồi chàng giả lơ không đáp đi tụt hậu
sau lưng nàng.
Qua
tháng sau trong một lần gánh rau về nhà nàng, Hà cho biết
là chuẩn úy Sơn chồng nàng dạo này phải đi công tác
xây dựng xa trên Thanh Hóa. Tại nhà Hà hôm đó trên chiếc
chõng tre ọp ẹp cuộc mây mưa của hai đứa bắt đầu.
Được tiếp sức nhờ đồ ăn “bồi dưỡng” của Hà
dạo này sức khỏe khấm khá nên chàng phục vụ nàng tận
tình. Tiếp theo đó những buổi trưa hè cái chõng tre lại
“kẽo kẹt” hòa âm với tiếng ve sầu kêu râm ran trong
khu rừng sắn sau nhà nàng.
Đi
đêm mãi có ngày gặp ma... Hôm đó hai đứa vừa vào
trong nhà chưa kịp lâm trận thì ngoài cổng đã có tiếng
gọi to: “Bà Sơn có nhà không?”. Rồi tiếng chân người
xầm xập qua hiên. Hà hốt hoảng đẩy Hiếu thoát ra cửa
sau rồi tiến lên chặn cửa trước. Ra ngoài chàng chạy
thục mạng vào khu rừng sắn. Đằng sau chàng có tiếng
oang oang của cán bộ Chương: “Thấy có bóng người tôi
ngỡ là đồng chí Sơn đã về”. Rồi tiếng Hà trả lời
ú ớ chàng nghe không rõ...
Hiếu sống trong tâm trạng cực kỳ lo âu suốt một tuần
lễ sau đó. Mỗi ngày trôi qua không bị mời lên Ban An
Ninh chàng lại mừng thầm.
Rồi
một buổi chiều trong lúc Hiếu đang tắm trên sông Mã
thì một anh bạn tù khá thân lại gần. Anh ta tên là Lân,
trại viên Thông Tin Văn Hóa. Với chức vụ này anh ta
thường có dịp lên Khung và tiếp xúc với các cán bộ
của Ban Chỉ Huy. Lân nói nhỏ vào tai chàng:
–
Ông Hiếu này, ông coi chừng đấy. Sáng nay tôi nghe cán
bộ Chương nói chuyện to nhỏ gì với Ban Lăng có nhắc
đến tên ông. Tôi không biết chuyện gì, nhưng đoán là
chuyện không hay. Nói để ông liệu mà đề phòng.
Hiếu
giật mình. Ban Lăng, sĩ quan An Ninh nổi tiếng là hung thần
của trại Thanh Cẩm. Tay này là cánh tay phải trại trưởng
Thực. “Ban” là tiếng để gọi các sĩ quan trong trại.
Chương mà to nhỏ với Lăng thì chỉ có thể là chuyện
“hủ hoá” giữa Hà và chàng. Vậy là có vấn đề lớn
rồi.
Ý
nghĩ trốn trại xẹt qua trong trí chàng. Nhưng nghĩ đến
vụ “bố” Lễ cùng mấy người khác trốn trại thất
bại năm trước ý nghĩ đó tắt ngay. Bố là tiếng dùng
để ám chỉ các linh mục bị giam trong một dãy nhà
riêng, mà anh em tù nhân đặt một biệt danh là “khu
Vatican”. Hậu quả ghê rợn của vụ trốn trại bị bắt
lại và bị trừng phạt ra sao mọi người đều biết.
Hôm
sau Hiếu lục lại các “bùa hộ mạng” thấy chỉ còn
một sấp vải “hàng ngoại” do bà chị chàng gửi trong
lần thăm nuôi mới đây, sấp vải này chàng tính dùng để
tặng Hà, nhưng nay với cơ sự này thì đành phải dùng
nó vào việc khác. Hồi đó chàng có cô em ở bên Mỹ nó
thường gửi quà cho chàng qua ngã Pháp về địa chỉ bà
chị ở Sài Gòn. Để mua chuộc cảm tình của các cán bộ
nhằm đổi lại một không khí dễ thở các tù nhân
thường tìm mọi cách “hủ hoá” cán bộ bằng quà cáp,
không phải trực tiếp đưa họ mà là qua tay các bà vợ.
Việc Hiếu chia sớt đậu xanh lấy được từ Đội 7 và
Đội 4 cho vợ của các cán bộ trong ban nhà bếp cũng nằm
trong mục đích đó. Nhưng vũ khí mạnh nhất của tù cải
tạo là những thùng đồ của thân nhân từ nước ngoài
gửi về và mang đến do thăm nuôi. Những người ở nước
ngoài không thể hiểu nổi yêu cầu quái đản của tù
nhân cải tạo: trong khi đời sống cơ cực như thế mà
chỉ xin gửi những đồ xa xỉ dùng cho phụ nữ như khăn
tắm, nước hoa, xà phòng, vải vóc, thậm chí còn xin gửi
cả áo ngực và quần lót đàn bà nữa. Những thứ này
tù nhân gọi là “bùa hộ mạng”.
Với
cái bùa ấy Hiếu đến gặp vợ của Ban Lăng. Bà này
người quê mùa cục mịch nhưng không có cái tướng độc
ác của chồng. Nhìn thấy bà ta mê mẩn tay sờ vào xấp
vải lụa rồi áp lên má, Hiếu biết ngay là cái bùa này
có hiệu nghiệm. Sau đó chàng mới trình bầy câu chuyện
giữa bà Sơn và chàng, đó là chuyện bịa đặt do ác ý
của các bạn tù chứ thật ra giữa hai người không có
tư tình gì cả.
Sáng
hôm sau tù nhân tập họp trước sân chuẩn bị “xuất
số” đi lao động. Khi qua cổng trại Ban Lăng đứng đó
chỉ vào mặt Hiếu nói chàng phải ở nhà “làm việc”.
Các anh em tù nhìn Hiếu ái ngại vì Ban Lăng muốn “làm
việc” với ai thì người đó cầm chắc là bị đánh
tàn nhẫn và sau đó bị gửi lên “vùng trên”, tức là
khu nhà Kỷ Luật.
Hiếu
chuẩn bị tinh thần để đón nhận hình phạt nặng nề
nhất mà Ban Lăng có thể đem ra thi hành với chàng. Nhưng
khi gặp hắn chàng ngạc nhiên hết sức. Trước hết hắn
bảo chàng phải “thành khẩn” khai báo mọi chuyện giữa
chàng và bà Sơn, không được giấu diếm một chi tiết
nào.
Hiếu
giải trình với Ban Lăng trên cơ sở “chối chết bỏ”:
thôi thì đủ lý do lý chấu là chuyện liên hệ tư tình
với bà Sơn hoàn toàn không có, có chăng chỉ là do các
bạn tù có ác ý gán ép mà thôi.
Nghe
xong Ban Lăng ngoắc tay cho chàng về Buồng. Hắn nói:
–
Anh về viết trình nội vụ về việc anh liên hệ với bà
Sơn để tôi trình ông Thực.
Ngừng
một chút hắn hạ giọng nói trấn an:
–
Vợ ai thì người ấy giữ chứ, phải không nào?
Hiếu
thoát nạn. Mừng hú. Sau này hiểu chuyện chàng mới biết
cái “bùa hộ mạng” không giúp chàng nhiều như chàng
tưởng lúc ban đầu. Hiếu thoát vì lý do này: chuyện vợ
của một cán bộ “hủ hoá” với tù nhân là chuyện
tối kỵ đối với chế độ cộng sản. Vì thế bằng
mọi cách Ban Chỉ Huy trại phải ém nhẹm chuyện xấu xa
này đi để nó khỏi loan truyền ra ngoài.
Vì
vậy họ đã giải quyết chuyện này một cách êm thắm:
không một ai hay biết nguyên do vì sao vợ chồng cô Hà
lại bị thuyên chuyển về làm việc tại nhà máy xi-măng
Bỉm Sơn ở Thanh Hóa.
Trong
khi chuẩn bị dọn nhà đi Bỉm Sơn họ cần nứa để
đóng bè. Hiếu điều đình với một số anh em thuộc
“phe ta” tức toán đi rừng Đội 4 để thương thảo
với vợ chồng cô Hà. Anh em đội rừng chặt nứa mang
tới cái bè do chồng của cô Hà đóng tại mé sông, đổi
lại Hà trả bằng gạo với giá cả được thỏa thuận:
“một bó nứa lớn được bốn bò gạo”.
Ngày
giao nứa sau cùng là một buổi chiều vàng rất đẹp
nhưng buồn bã. Ánh nắng lọt qua đám lá cây bên bờ
sông phủ lên mặt sông Mã êm đềm những đốm sáng lăn
tăn. Mấy tù nhân đứng bên bờ sông nhìn chiếc bè từ
từ ra giữa dòng. Nhìn chuẩn úy Sơn dáng người gầy gò
cong lưng chống sào Hiếu tự hỏi người chồng đáng
thương này có hay biết gì về câu chuyện tình của hai
người. Lòng trắc ẩn của Hiếu với anh ta quả là không
đúng lúc vì nó làm chàng sao lãng mấy phút quí giá:
chàng đã quên không nhìn thẳng vào đôi mắt của Hà để
nói với nàng bằng ánh mắt lời từ biệt sau cùng. Khi
chàng định thần thì chiếc bè đã cách bờ khá xa, Hà
đứng thẳng người, mặt trời phía sau lưng khiến mặt
nàng chìm trong tối và bây giờ thì đôi mắt đẹp của
nàng, đôi mắt buồn não nuột ấy đang dương to nhìn
Hiếu nếu có chăng thì cũng chỉ là ở trong trí tưởng
tượng của chàng.
Tiếng
loảng xoảng rung chuyển của con tàu băng qua một cây cầu
sắt đánh thức Hiếu về với hiện tại. Chàng nhìn
quanh khoang tàu. Trước mặt chàng qua mặt bàn hai vợ
chồng già nay đã đổi vị trí. Ông chồng vẫn say ngủ,
miệng há hốc, nhưng đầu gục trên vai vợ trong lúc bà
này đã thức, ngồi thẳng trên ghế, nhìn chàng đăm đăm
với cặp mắt mệt mỏi vô hồn.
Ở
ngăn bên kia, thằng bé cũng tỉnh ngủ, nhỏm dậy khỏi
đùi người đàn bà, nói to:
–
Mẹ ơi, con không ngủ được.
Người
thiếu phụ cúi xuống nói:
–
Sao vậy con?
–
Cái đèn kia kìa, nó chiếu vào mắt (Thằng bé chỉ vào
bóng đèn trên nóc toa).
–
Để mẹ che mặt cho con. Ngủ đi!
Thằng
bé ngồi thẳng dậy, nói:
–
Tối đen con mới ngủ được, phải đen xì, đen như mực
cơ!
Im
một lát.
Thằng
bé lại nói:
–
Lúc nãy con ngủ con trông thấy một ông tây to tướng.
Im
một lát.
–
Mẹ ơi! Tại sao trên cánh tay ông tây lại có nhiều lông
thế hở mẹ?
Người
mẹ ấn đầu thằng bé lên đùi mình, gắt:
–
Ngủ đi, mày chỉ hỏi vớ vẩn!
Rồi
người đàn bà chống tay lên bàn nhìn ra cửa sổ.
Im
lặng. Chỉ còn tiếng phông của con tầu đều đều
nghiến trên đường sắt.
Hiếu
chống khuỷu tay lên bàn nhìn ra ngoài cửa kính. Bỗng
chàng giật mình. Trong đêm đen ngoài kia lơ lửng hình một
người đàn bà tay chống cằm nhìn ra ngoài cửa sổ. Định
thần thì đó là hình ảnh hai mẹ con ở ngăn bên kia.
Hình ảnh ấy như bị vứt ra khỏi con tàu chơi vơi bên
ngoài. Thì ra tấm cửa kính nếu được nhìn ở một
khoảng cách nhất định có tác dụng của một mặt
gương. Nếu dán sát mặt vào kính hay lùi ra xa thì tác
dụng đó không còn. Hiếu nhích một chút xíu điều chỉnh
để tấm kính có tác dụng của một nửa tấm gương:
một nửa có thể nhìn xuyên bên ngoài, một nửa phản
chiếu hình ảnh trong toa. Cả hai hình ảnh trong và ngoài
toa tàu đè chồng lên nhau lơ lửng trong màn đêm đen.
Bỗng
người đàn bà ngoài toa tàu kia quay lại nhìn thẳng về
phía chàng. Đôi mắt nàng mở lớn. Ngay lúc ấy một tàn
lửa ánh lên ở ngoài đêm. Ánh lửa lóe sáng chập vào
tròng mắt của người đàn bà. Hiếu thảng thốt kêu
thầm trong trí: “Hà!” rồi quay ngoắt người lại nhìn
vào trong toa.
Nhưng
không. Người đàn bà còn quá trẻ này không thể nào là
cô Hà của chàng ba mươi năm trước. Khi chàng đột nhiên
quay lại nhìn nàng, cặp mắt người đàn bà này vẫn
giương to nhìn suốt qua chàng, không tránh đi, chứng tỏ
là lúc nãy nàng không có ý nhìn trộm Hiếu trong lúc
chàng nhìn ra cửa sổ.
Chàng
lại nhìn ra cửa kính kín đáo quan sát “nàng” qua phản
chiếu. Nhìn kỹ người đàn bà này thì Hiếu lại không
thấy có điểm nào giống người trong mộng của chàng,
nhưng lâu lâu bất chợt, qua một ánh mắt hay một dáng
điệu nào đó người thiếu phụ làm loé trong trí chàng
sự liên tưởng đến Hà.
Sự
khám phá cái mặt kính như một trò chơi kích thích khiến
Hiếu không ngủ lại được. Dần dà, tất cả mọi người
trong hai ngăn của toa tầu đều ngủ say, ngoại trừ hai
người. Và cả Hiếu lẫn nàng đều cùng tì khuỷu tay
trên bàn và cùng nhìn ra ngoài cửa kính.
Nàng
có trông thấy Hiếu trong mặt kính giống như chàng đã
thấy nàng? Hay nàng không thấy gì cả, hoặc nếu thấy
thì đó là hình phản chiếu một chỗ khác trong toa?
Gần
sáng Hiếu thiếp đi mang theo hình ảnh người thiếu phụ
này vào trong giấc mơ của chàng, một giấc mơ trốn trại
khá dữ dội...
Đêm
khuya, trời mưa, lúc Hiếu vừa bò ra khỏi hàng rào cổng
trại thì một tiếng súng nổ chát chúa. Chàng chạy thục
mạng qua bãi sắn về hướng sông Mã. Nhào xuống sông
lúc này nước chẩy xiết như thác lũ chàng thả mình bơi
xuôi dòng dọc theo các bụi rậm ven sông. Rồi tiếp theo
hai ba phát súng nổ từ phía trại, tiếng chân người
chạy rầm rập trên bờ lẫn tiếng la hét của cán bộ.
Lát sau tiếng chân người xa dần. Chàng mò mẫm lội
trong đêm tối mò tới điểm hẹn dưới một gốc cây
lớn bên sông. Có tiếng gọi rất nhỏ “anh Hiếu” từ
một bụi rậm, rồi một chiếc ghe nhỏ hiện ra. Hiếu
bám lên ghe trong lúc Hà chống sào đẩy ghe xa bờ. Đúng
lúc ấy tiếng chân rầm rập của đám người quay lui,
đồng thời từ phía trại tăng cường cán bộ dắt chó
săn truy lùng. Bờ sông vang dội tiếng la hét, tiếng chó
sủa, tiếng súng va chạm lách cách. Có tiếng quát tháo
của Ban Lăng rồi một tràng đạn bắn lia ra sông. Trong
đêm đen chiếc ghe vọt ra giữa dòng... Qua bờ sông bên
kia Hà đẩy chiếc ghe cho trôi xuôi dòng rồi hai đứa lên
bờ nhắm hướng núi trước mặt tiến tới. Tờ mờ sáng
hai đứa đến chân núi. Rặng núi đá xanh sừng sững
trước mặt. Chàng chỉ lên cao. Lưng chừng núi hoác ra
một cửa hang đen ngòm. Chàng bảo Hà: “Mình trốn trong
hang đó”. Hai đứa leo lên. Đến gần trưa thì đến
miệng hang. Miệng hang to và cao như một toà nhà, bên
trong sâu thẳm đen ngòm. Hai đứa đứng ở miệng hang
nhìn xuống núi. Phía xa, sau rừng cây, con sông Mã đục
ngầu uốn khúc như một giải lụa đào. Trại Thanh Cẩm
nhỏ bé nằm bên kia sông chìm khuất trong cây chỉ nhô
lên dẫy nóc bằng của khu Kiên Giam là nơi cao nhất trong
trại. Hiếu vòng tay ôm sau lưng Hà chỉ vào trong hang và
nói với nàng: “Đây là tổ ấm của chúng mình. Anh sẽ
trồng rau xanh mà sống...”. Hà hỏi: “Sao anh lại chọn
cái hang này để trốn?”. Hiếu trả lời nàng: “Vì đây
là căn nhà trong mộng của anh. Mỗi lần tắm trên dòng
sông kia là anh lại mơ ước được sống với em trong
hang đá này suốt cuộc đời. Căn nhà này, cái hang này...
anh đặt tên là Văn Dú”.
Một
hồi còi kéo dài, tiếng hãm ken két, rồi con tàu giựt
mạnh, ngừng khựng. Hiếu bật dậy khỏi giấc mơ ngơ
ngác nhìn quanh. Có tiếng nói lao xao: “Ga Huế! Ga Huế”.
Trời đã sáng.
Một
số hành khách trên tàu đang sửa soạn xuống ga, trong số
có hai mẹ con ở ngăn bên kia. Người thiếu phụ cúi
xuống dưới bàn tính lôi một cái va-li khá lớn ra nhưng
nó mắc kẹt ở chân ghế. Nàng ngồi hẳn xuống cầm
quai va-li giật mạnh mấy cái nhưng vô hiệu. Hiếu đứng
dậy bước ra quỳ xuống cạnh nàng, thò hai tay qua chân
ghế kéo được cái va-li. Hai người cùng đứng dậy một
lúc. Vì hành lang giữa toa tầu hẹp nên khi đứng dậy
hai người ở vị trí ép sát vào nhau. Nàng khẽ hất đầu
cho tóc khỏi rối trên trán, ngước mắt nhìn Hiếu, đôi
mắt mở lớn, nói lí nhí trong miệng:
–
Cám ơn bác.
Thoáng
một cái hình ảnh Hà vụt hiện khiến chàng buột miệng
thốt ra:
–
Cô Hà...
Người thiếu phụ sững sờ nhìn Hiếu như không hiểu
chàng nói gì. Hiếu ấp úng:
–
Cô... cô...trông giống hệt một người mà tôi quen. Xin
lỗi cô... có phải... mẹ của cô tên Hà?
Nàng
nhướng to đôi mắt nhưng vẫn không nói gì. Chàng tiếp
theo:
–
... và bố của cô tên là Sơn?
Mắt
của nàng ánh lên:
–
Vậy là bác có quen biết bố mẹ cháu.
–
Tôi biết mẹ cô. Cũng lâu lắm rồi. Hồi đó mẹ của
cô làm việc ở trại tù Thanh Cẩm... Chúng tôi quen nhau
hồi ấy...
–
Thanh Cẩm? Mẹ cháu có nhắc đến trại Thanh Cẩm....
–
Mẹ cháu bây giờ ra sao? Có được mạnh khỏe không?
Hiếu
dồn dập hỏi. Thiếu phụ yên lặng nhìn xuống đất.
Rồi một tay nhấc va-li tay kia nắm tay thằng bé nàng đi
ra cửa. Gần đến bực thang nàng quay lại nhìn chàng nói:
–
Mẹ cháu mất được hai năm nay rồi.
Hai
mẹ con xuống tàu. Hiếu nhìn nàng đi lẫn trong đám đông.
Ngồi thừ một lúc lâu chàng ngó qua cửa sổ nhìn đám
hành khách qua lại tấp nập trên sân.
Bỗng
chàng hốt hoảng đứng bật dậy đi nhanh ra cửa xuống
sân ga. Hiếu vừa chợt nghĩ ra người con gái ấy, phải
chính nàng, rất có thể là kết quả của mối tình Thanh
Cẩm của chàng và chàng phải gặp nàng để lấy địa
chỉ liên lạc.
Trên
sân ga trong đám người qua lại nhốn nháo Hiếu kiễng
chân nhìn tứ phía. Nhưng chàng không thấy đâu người
thiếu nữ ấy, người thiếu nữ mang hình ảnh người
đàn bà đã đi qua đời chàng ba mươi năm trước, người
thiếu nữ mà hình bóng đã đi vào trong giấc mộng của
chàng ba mươi năm sau trên chuyến tàu xuyên Việt này.
Một
hồi còi tàu rú lên. Hiếu thẫn thờ bước lên tàu vừa
lúc con tàu bắt đầu chuyển bánh.
Nguyễn
Tường Thiết

0 comments:
Post a Comment