Giới thiệu

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 2 năm 2013



Nỗi buồn của ông Hữu Thọ

 
 

 
Ngô Nhân Dụng

Trong một bài phỏng vấn trên tạp chí Giáo Dục cuối tuần qua, ông Hữu Thọ đặt câu hỏi: “Tình trạng thụ động của gần 20 triệu đảng viên Ðảng Cộng sản Liên Xô trước tình trạng tan rã của Liên bang và sự sụp đổ của Ðảng nói lên điều gì?”


Nhà báo Hữu Thọ

Nói lên điều gì? Ðây là một thắc mắc chính đáng. Ðối với một người còn là đảng viên cộng sản, nhắc đến cái chết của Liên Xô phải thấy đau đớn. Giống như một người có 20 triệu đứa con, mà khi té ngã vỡ đầu thì không đứa con nào chịu nhúc nhích một ngón tay để cứu bố. Tình cảnh não lòng thật. Lúc Ðảng Cộng sản Liên Xô đã chết mà cũng không có đứa con nào làm đám tang để nhận một vòng hoa phúng điếu. Ông Hữu Thọ vẫn thắc mắc: “Vì sao hơn 200 triệu dân Xô viết không bảo vệ Ðảng trong lúc nước sôi lửa bỏng?” Cả nước Nga chỉ thở ra nhẹ nhõm; không còn ai muốn trở lại kiếp sống cũ.

Ðặt câu hỏi “Vì sao” nhưng hầu như trong cả bài phỏng vấn đăng trên báo Giáo Dục, ông Hữu Thọ không đưa ra câu trả lời nào, mặc dù ông cho biết đã đọc rất nhiều sách viết về cuộc sụp đổ của Cộng sản Liên Xô. Người đọc chỉ có thể đoán ý tưởng ông định dùng để trả lời cho câu hỏi đó, khi ông đưa ra những đề nghị để giúp đảng Cộng sản Việt Nam tránh khỏi tình trạng Liên Xô. Các đề nghị của ông, tóm tắt lại, là phải làm sao cho các người lãnh đạo đảng tốt hơn, các đảng viên cũng tốt hơn, thì đảng sẽ tránh khỏi tan rã.
Về giới lãnh đạo, ông Hữu Thọ nhận xét thế này: “Một số người lãnh đạo đã ngày càng không muốn nghe những lời nói thẳng, chỉ muốn nghe lời khen bùi tai do đó quy tụ chung quanh những người thiếu trung thực.” Nói chung về các đảng viên thì ông thấy có sai lầm, “sai lầm trong chọn lựa, sử dụng cán bộ, sai lầm trong việc rèn luyện đội ngũ dẫn tới suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống.” Trên báo Nhân Dân, mà ông đã từng chỉ huy, hồi năm ngoái ông Hữu Thọ mới viết bài “Ngậm miệng ăn tiền;” trong đó ông than rằng nhiều cán bộ, đảng viên đã chọn thái độ “im lặng bỏ qua, không can gián, không góp ý phê bình những sai sót của lãnh đạo.” Ông còn nói, “không ít người né tránh chọn thái độ ngậm miệng, chọn cách yên phận trong canh bạc cơ hội.”

Những nhận xét này thì cả nước biết cả rồi. Người dân còn biết nhiều hơn nữa kia. Những câu hỏi vẫn là: Làm thế nào để Ðảng Cộng sản Việt Nam thoát khỏi những cái tật kể trên, ngõ hầu cứu cho đảng không theo gót Liên Xô? Cứ theo những lời ông Hữu Thọ nói, thì chỉ có một cách là “rèn luyện” và “học tập.” Học tập cái gì? Chỉ thấy ông nhắc đến một điều là tránh chủ nghĩa cá nhân. Thay đổi con người trong đảng, giúp họ không nghĩ đến lợi riêng nữa, thì chắc đảng sẽ thoát chết.

Ðọc những lời ông Hữu Thọ nói chúng ta càng tin thêm là chắc chắn đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tan rã. Không cách nào thoát được. Ông Hữu Thọ là một lý thuyết gia số một trong đảng, ông từng chỉ huy cái miệng của đảng là báo Nhân Dân, lại đứng đầu ngành văn hóa, tư tưởng. Nhưng cách suy nghĩ của ông hoàn toàn ngược lại với phương pháp nghiên cứu của ông Karl Marx. Marx luôn luôn nghĩ rằng kinh tế quyết định, văn hóa, tư tưởng con người đều bị kinh tế cuốn theo. Khi phân tích xã hội tư bản và tiên đoán là nó sẽ tan rã, Marx không bao giờ nói là kinh tế tư bản sẽ chết vì con người trong đó không chịu “học tập tốt chủ nghĩa tư bản!” Nếu sống vào thời nay, chắc Karl Marx sẽ phân tích xem trong cơ cấu xã hội Liên Xô có cái gì không ổn, mới gây ra cảnh 20 triệu đảng viên và 200 triệu người dân hoàn toàn thờ ơ khi chế độ cộng sản sụp đổ. Ông Hữu Thọ đặt câu hỏi hiện tượng đó nói lên điều gì? Nhưng trong cả bài phỏng vấn ông không nhận ra nó nói lên cái gì cả. Ông không rút ra được một bài học thích đáng.

Lý do chính khiến chế độ Xô Viết sụp đổ là cả guồng máy kinh tế, chính trị, tư tưởng đã dần dần tê liệt trong hơn bốn chục năm. Các người quản lý nhà máy cho đến các công nhân không ai quan tâm đến việc gia tăng hiệu năng sản xuất mà chỉ lo làm sao báo cáo cho phù hợp với các kế hoạch, chỉ tiêu. Nếu cần thì nói dối. Các cán bộ cũng chỉ tìm cách thi đua thành tích chứ không cần sự thật. Tình trạng toàn thân xơ cứng đó khiến đến cái đầu cũng mắc bệnh xơ cứng. Dối trá trở thành một nếp sống; không còn ai tin vào chủ nghĩa giáo điều nữa. Khi chính những cơ xưởng sản xuất vũ khí cũng dần dần xơ cứng, giống như trong nhà máy làm giầy hay làm tủ lạnh, thì chính ông trùm KGB Andropov thấy phải thay đổi từ trên xuống dưới. Ông kêu một người trẻ hăng hái là Gorbachev về giao cho nhiệm vụ đó. Sau cùng Gorbachev cũng bó tay, vì xã hội Liên Xô hư hỏng từ nền tảng, tình trạng tan rã dù có trì hoãn cũng không thể ngăn chặn được.

Vậy tại sao khi chế độ tan rã, các đảng viên không ai thèm đưa tay ra cứu? Bởi vì họ lo cho con cháu. Họ đã thấy, đã biết, đã sống trong chế độ, họ hiểu rằng bất cứ cái gì lên thay thế cũng tốt hơn tình trạng họ đang sống. Họ không muốn con cháu sau này sẽ phải đóng tuồng sống trong giả dối như họ nữa. Khi 20 triệu đảng viên, được hưởng đủ thứ đặc quyền mà còn nghĩ như vậy thì 200 triệu dân Nga đâu có thiết tha gì với đảng Cộng sản? Sau 70 năm sống dưới chế độ cộng sản người Nga chỉ muốn quay trở về sống cuộc đời bình thường, không cần mỗi ngày phải hô những khẩu hiệu mà chính họ cũng không tin.

Các đảng viên Xô Viết không thiết tha với đảng vì chính họ sống cảnh xã hội tan rã từ nền tảng, ngay trong đầu của họ, mỗi ngày, suốt mấy chục năm từ năm 1956 khi Khrushchev vén màn cho mọi người thấy tấn tuồng Stalin lừa lọc, đẫm máu, man rợ như thế nào. Họ nhìn thấy rõ tất cả các khẩu hiệu, giáo điều, tư tưởng, kế hoạch, chỉ tiêu, đều là một trò dối trá có hệ thống.

Ông Hữu Thọ còn tự hỏi: “Vì sao gần 20 triệu đảng viên của Liên Xô không giữ nổi sự sụp đổ của Ðảng, trong khi (vào thời Ðại chiến Thứ hai) chỉ có hơn 5 triệu đảng viên đã là nòng cốt đoàn kết toàn bộ các dân tộc sống trong Liên bang cho cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại chống chủ nghĩa phát xít thắng lợi vẻ vang?”
Ông Hữu Thọ hiểu lầm dân Nga khi họ quyết tâm chống Ðức Quốc Xã. Trong Ðại chiến Thứ hai, dân Nga đã đánh bại quân Ðức; nhưng yếu tố quyết định không phải là nhờ chủ nghĩa Cộng sản. Họ chiến đấu vì tinh thần yêu nước. Trong thời chiến, chính quyền Nga không đề cao chủ nghĩa cộng sản nữa mà chỉ kêu gọi bảo vệ Mẹ Tổ Quốc. Cũng như người Việt Nam đã đoàn kết kháng chiến chống Pháp vì yêu nước chứ không phải vì một chủ nghĩa xa xôi nào cả!

Nhưng phải cảm ơn ông Hữu Thọ đã nhắc đến hiện tượng 20 triệu đảng viên cộng sản Liên Xô hoàn toàn thờ ơ khi chế độ Xô Viết tan rã. Ðó là một sự kiện lịch sử không thể nào nhắm mắt, bịt tai không biết tới được. Và những người biết cái đầu cũng không thể nào làm ngơ không suy nghĩ nguyên nhân vì sao có hiện tượng đó. Nhờ ông, các đảng viên cộng sản Việt Nam sẽ suy nghĩ và phải thấy đảng của họ không thể nào sống mãi được.

Vì chúng ta không thể giả thiết là 20 triệu đảng viên cộng sản Liên Xô đều là những người kém thông minh. Cũng không thể giả thiết là họ đều hèn nhát, ích kỷ. Ít nhất, phải coi họ là những người bình thường, như chúng ta. Họ lãnh đạm, bỏ rơi đảng cộng sản bởi vì trong lòng họ đã sẵn sàng từ mấy chục năm rồi. Chỉ cần dùng lương tri bình thường, họ cũng biết đảng Cộng sản phải tan rã. Họ còn lo là chế độ mà kéo dài thì đời con, đời cháu họ sẽ phải tiếp tục sống trong dối trá và chịu cảnh thiếu thốn như chính họ.

Nhưng vấn đề chính không phải là con người các đảng viên cộng sản đã thay đổi, không còn tin tưởng vào đảng của họ nữa. Họ không thể giữ được niềm tin sau khi đã thể nghiệm ngay trong cuộc sống của họ để thấy tất cả chủ nghĩa, chế độ chỉ là một tấn tuồng dối trá. Người có lương tâm không thể sống trong dối trá suốt đời mà không tự cảm thấy hổ thẹn. Chính cơ cấu tổ chức xã hội của đảng cộng sản gây ra tình trạng niềm tin tan rã.

Như chính ông Hữu Thọ cũng nhận ra; vấn đề chính là cơ cấu: “Chúng ta là đảng viên,... có khi là đại biểu dự mấy kỳ đại hội Ðảng,... nhưng sau đó không còn có cơ chế thực tế có hiệu lực nào để tiếp tục đóng góp, kiểm tra ngay cơ quan lãnh đạo do mình bầu ra.”

Ðảng Cộng sản ở Liên Xô, Trung Quốc hay Việt Nam đều được tổ chức theo lối đó. Trong cơ cấu đảng, và trong cơ cấu xã hội, không có một “cơ chế thực tế có hiệu lực” nào để những người bên dưới có khả năng kiểm soát những người nắm quyền. Ðiều này đã được Robert Michels, một nhà xã hội học Ðức, nhận thấy từ năm 1911. Ông nhận thấy những đảng chính trị tập trung quyền vào trong tay một nhóm “quả đầu” thì không thể nào sống theo các quy tắc dân chủ được. Vì những người ngồi trên cùng kiểm soát tất cả nhân lực và tài nguyên của đảng, tự nhiên họ muốn bảo vệ quyền lợi đó tới cùng. Phân tích một cách khách quan ai cũng phải công nhận điều đó là sự thật. Tình trạng đó khiến các đảng Cộng sản không thể nào tự thay đổi từ bên trong được.

Người phỏng vấn ông Hữu Thọ nhận xét: “thực ra nguy cơ suy thoái đạo đức, nguy cơ đánh mất dần phẩm chất cách mạng... không phải tới bây giờ mới xuất hiện mà đã ‘song hành’ cùng với sự phát triển của chúng ta từ lâu lắm rồi...” Ðiều này đã diễn ra trong đảng Cộng sản Liên Xô, còn đang diễn ra ở Trung Quốc, Bắc Hàn, cũng như Việt Nam. Tất cả chỉ vì cơ cấu tổ chức của đảng, và các đảng tổ chức xã hội, ngay từ đầu đã giết chết khả năng tự cải thiện.

Các xã hội tự do dân chủ có khả năng tự cải thiện vì áp dụng quy tắc tạo thế cân bằng trong cơ cấu quyền lực để những cơ quan nắm quyền tự động kiểm soát lẫn nhau. Ðảng Cộng sản không tổ chức theo lối đó. Ông Hữu Thọ mơ ước đảng ông sẽ có cơ chế khác, “để mỗi đảng viên trở thành thành viên tích cực, chủ động chứ không thụ động khoanh tay nhìn mất Ðảng” như ở Liên Xô. Nhưng chính ông cũng không biết cái cơ chế đó như thế nào? Liệu có thực hiện được không? Một đảng chủ trương chuyên chế độc tài thì chính nó không thể nào sống theo lối dân chủ tự do được; đó là một sự thật. Chỉ những đảng bằng lòng cai trị dân theo lối dân chủ mới có thể tự dân chủ hóa được mà thôi.

Chúng tôi cũng nghĩ như ông Hữu Thọ, là các đảng viên cộng sản Việt Nam cần “chủ động chứ không thụ động khoanh tay nhìn mất Ðảng.” Họ nên đóng vai “chủ động” giúp cho đảng của họ rút lui một cách hòa bình. Thế giới luôn luôn thay đổi. Diễn biến hòa bình chắc chắn tốt hơn là diễn biến không hòa bình! Nếu được như vậy thì chắc ông Hữu Thọ sẽ hết buồn. Bởi vì chắc ông cũng thấy cứ tham lam nắm lấy quyền lực để làm gì khi không ai còn hãnh diện về chính đảng mình nữa? Khi nhìn lại ai cũng thấy “nguy cơ suy thoái đạo đức, đã ‘song hành’ cùng với sự phát triển của chúng ta từ lâu lắm rồi.” Có thể nói, trong suốt lịch sử đảng! Càng phát triển, càng nắm quyền lâu ngày, thì lại càng suy đồi! Một cái đảng như vậy thì tiếc làm gì nữa? Cho nên các đảng viên cộng sản giờ phải lo giúp đảng giải thể một cách nhẹ nhàng, êm đẹp; hơn là “thụ động khoanh tay” nhìn nó chết bất đắc kỳ tử như ở Liên Xô. Ðược như vậy thì may mắn cho chính họ, cũng như cho người dân Việt Nam.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Vừa nhắm vào văn hoá viết vừa nhắm vào văn hoá đọc, trong cuốn sách này, đề cập đến mấy vấn đề chính: vai trò của lý thuyết, chức năng điển phạm hoá (canonization) và giải điển phạm hoá (decanonization) của phê bình, nhu cầu đổi mới, đề tài chiến tranh trong quan hệ với hiện thực và với quá trình tái cấu trúc ký ức tập thể, ý nghĩa của văn hoá tục, tính văn bản và liên văn bản của văn học, lưu vong với tư cách một phạm trù mỹ học, và cuối cùng, việc du nhập chủ nghĩa hậu hiện đại vào văn học Việt Nam. Ðó là những vấn đề căn bản và quan trọng nhất hiện nay.

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu

Giới thiệu

Giới thiệu
Tìm hiểu về văn học lưu vong, do đó, thực chất là tìm hiểu về tính chính trị, thi pháp và ngữ nghĩa học của gạch nối (semantics of the hyphen). Cái dấu gạch nối ấy là cái ở giữa (in-betweenness), là không gian xuyên quốc gia (transnation), xuyên văn hoá (transculture) và xuyên ngôn ngữ (translanguage).