Giới thiệu

Nguyễn Văn Thà - Lòng Mẹ Bao La Như

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 2 năm 2013



Nguyễn Văn Thà

Đời anh Lê Kỳ có hai điều làm anh hãnh diện: thứ nhất, 14 cái cầu anh chỉ huy xây dựng từ Miền Trung, Miền Cao Nguyên cho tới Miền Nam trước năm 1975; thứ hai, đứa con gái tiến sĩ của anh, tiến sĩ ngành kỹ thuật xây dựng giàn khoan dầu ngoài biển, ngành sở trường của người Na Uy.


Cha của anh Kỳ là người hay chữ. Sau khi tốt nghiệp trường Cao Đẳng Công Chánh Hà Nội, ông được bổ đi làm ngành công chánh ở An Lão, tỉnh Bình Định. Và ông còn mở thêm đồn điền cho mình ở đó. Mẹ anh cô hàng bán sách xinh đẹp ở Hà Nội, người gốc Bắc Ninh. Bà thích đọc tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, thuộc nhiều thơ mới, và dù là người Bắc, nhưng bài bà thích nhất là bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử mà bà hay ngâm bằng giọng Huế chuẩn những khi ngồi khâu vá hay những khi thong dong. Mẹ anh hiền lành như bao bà mẹ muôn thuở. Cha anh cũng hiền, chỉ nghiêm khắc chuyện học của anh. Câu nói chìa khoá của ông làm anh nhớ mãi: ”L’instruction, c’est une clé par laquelle toutes les portes s’ouvrent: Kiến thức là chìa khóa mà nhờ nó mọi cánh cửa sẽ mở cho ta.” Ông cụ rất trọng chữ tín. Ông hứa nuôi dạy con bạn khi vợ bạn mất trong thời gian bạn đi kháng chiến, và ông đã chăm sóc chúng đàng hoàng còn hơn con mình. Sau này anh Kỳ đọc được trong sách xưa những giáo huấn mà cha anh đã thực hiện: ”Trong trường hợp, ví dụ, anh hứa đưa con của bạn mình đi chạy nạn và hứa sẽ bảo vệ và chăm sóc nó, và nếu đến một lúc nào đó chỉ còn một miếng cơm nhỏ không còn chia được nữa cho con của chính mình và con của bạn, thì mình phải dành miếng cơm đó cho con bạn mà mình đã hứa sẽ bảo vệ và chăm sóc.” Và đây là bài thơ tân kỳ và thơ mộng nhất của Hàn Mặc Tử: 
              
Đây Thôn Vĩ Dạ 
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Nói tóm lại đời anh Kỳ bị ảnh hưởng bởi ba điều: bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ mẹ, câu châm ngôn về giá trị của giáo dục và tấm gương giữ chữ tín triệt để từ cha anh.

Khi anh Kỳ học hết trường ở Bình Định, cha anh hỏi anh muốn chọn trường nào, Chasseloup Laubat ở Sài Gòn hay Pellerin ở Huế, anh Kỳ thưa ngay: ”Dạ, Pellerin.” 

Ở Huế một thời gian anh mới thấy rẳng bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ chỉ là bài giáo đầu cho muôn vàn thơ mộng, thơ mộng từ lăng tẩm thân mật, đến những góc phố người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ, sông Hương nằm nghe hương phấn bao đời, những hồ sen gọi mời vô thủy vô chung, và muôn vàn gây say từ những đôi mắt lẩn khuất sắc hời, những dáng liễu mời giông bão tới, những nường đã cởi vòng dây trói Khổng - Mạnh: Em đang hứng, em đang đầy và em đang căng, em có thể hứng và đầy và căng và yêu anh từ chỗ anh đang đi bên em đến bất cứ chỗ nào anh nằm xuống ôm em.1 Thế mà chàng thư sinh Lê Kỳ suốt bốn năm theo học và cuối cùng lấy được cái bằng tú tài toàn phần ở đó, những nàng lá trúc che ngang mặt chữ điền đó vẫn chưa hớp được hồn chàng. Xem ra tương lai trước mặt với mảnh bằng tú tài toán đậu ưu đã xua giạt được hết.

Anh bắt xe về quê An Lão ngay ngày hôm sau coi bảng kết quả thi. Khi xe tới thành phố Qui Nhơn, trời đã tối; không còn xe về quận miền núi ấy. Anh chưa biết tính sao thì một cô quang gánh cùng chuyến xe, lại bên anh, ân cần:
”Anh tính về đâu nữa?”

”Về An Lão.”

”Ấy, bây giờ đi không được đâu. Đường vào đó, giờ nầy mất an ninh, đi liều, mất mạng như chơi. Hay là anh về nhà cha mẹ em nghỉ một đêm, sớm mai có xe lam vào trong đó, rồi hãy đi.” 

Giọng nói, dáng dấp, nụ cười cô làm anh yên tâm. Anh theo cô về nhà cha mẹ cô. Một chiếc giường con sạch sẽ, chiếc chiếu cói còn thơm mùi cói do cô trải, ánh đèn dầu êm êm nghe tiếng đại bác, tiếng bom xa xa vọng về từ phía núi rừng Trường Sơn. Sớm mai, sau khi ăn tô cháo gà tiêu xanh, ớt đỏ và uống tô nước chè xanh, cô lại cùng anh Kỳ ra xe, vai gánh một gánh hoa đủ màu soạn sẵn tươm tất, đầm đìa tươi tốt đâu từ đầu hôm, ra chợ bán. Cô có vẻ sửa soạn hơn hồi hôm, duyên hơn giữa những màu hoa, cười cười nói nói hai lúm đồng tiền. Hai cái lúm đồng tiền trên đôi má nâu giòn ấy vừa lên xe anh còn nhơ nhớ, nhưng chưa hết nửa đường chúng đã lặn mất trong tâm tưởng.

Chuyến vào Sài Gòn thi (và đậu) vào trường kỹ thuật Phú Thọ, anh đi qua nhưng không buồn ghé nơi mình đã trọ một đêm ấy. Những lần sau cũng vậy.

Ở Sài Gòn học bốn năm, xem ra anh bị cuốn trọn trong mạng lưới thần kỳ đan bằng những chuỗi số, những bản vẽ kỹ thuật, chúng che chắn anh khỏi những cô gái của những giọt tango bleu2 hay những thân thể chín muồi tội lỗi.3 

Học xong, vì đậu cao, anh được bổ về làm phó ty, rồi hai năm sau, trưởng ty Công Chánh Bạc Liêu, xứ của những nàng con gái trắng như bông bưởi, thơm nồng như bông bưởi và mọng tròn trái ngất ngư, nhưng ngũ quan chàng trai trẻ ấy dường như vô cảm. 

Miền Nam Việt Nam đã đến lúc cần thêm người tiếp máu cho cuộc chiến đã đến hồi một được hai thua, những giòng máu mà chính phủ cho tới sau năm đó, năm Mậu Thân, muốn để dành để sau khi hết binh lửa, xây dựng đất nước; anh Kỳ bị động viên. Rất nhiều nước mắt của các nàng nhân viên. Anh cảm thấy hãnh diện hơn là bi lụy.  

Anh gia nhập đoàn công binh chiến đấu, đi xây dựng đồn bót, cầu đường trên khắp bốn vùng chiến thuật; đơn vị cuối cùng là tiểu đoàn công binh có hậu cứ ở Pleiku. Trước đó, tiểu đoàn anh đóng chung với lính sư đoàn 1 và mấy tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng ở Đông Hà. Trong chiến dịch Lam Sơn 719, căn cứ bị pháo kích dữ dội có hơn 200 quả mỗi ngày, và sau đó đơn vị anh, theo đoàn quân chiến dịch, đi làm cầu, đường dã chiến bên chiến trường Hạ Lào. Anh đã trải qua muôn vàn kinh hoàng; gan lì không phải là thế mạnh của anh. Sau chiến dịch, anh được nghỉ phép. Mẹ anh đưa chuyện hôn nhân ra bàn với anh, anh, không như những lần trước, đồng ý ngay, làm chính mẹ anh ngạc nhiên, cha anh càng ngạc nhiên hơn. Hai vị còn ngạc nhiên hơn khi anh nói anh đã có sẵn ý trung nhân. Người đó chính là cô Lụa, người con gái quang gánh độ nọ đã cho anh trọ một đêm. Cha anh nghe qua chuyện kỳ ngộ kỳ cục đó, không hài lòng lắm, nhưng ông không hoàn toàn bác bỏ ý con trai mình, ông chỉ nói: ”Người có học như con, mà lấy người như vậy, sau nầy con tâm sự chuyện trò với người ta làm sao!” Anh Kỳ hiểu cha anh muốn nói đến cái cô đơn của đôi vợ chồng không cùng mức văn hoá, thậm chí có trường hợp người phối ngẫu này phải chịu đựng cái vô văn hoá từ người phối ngẫu kia. Anh không quan tâm lắm. Chiến tranh đang càng ngày càng khốc liệt, đối với những người vào sinh ra tử như anh, cái cô đơn mang tính văn hoá như thế là chuyện xa xỉ và xa vời. Chuyện lấy Lụa chẳng qua như chuyện uống liều thuốc an thần cấp thời, dù là thuốc nội hóa, mua được trong hiệu thuốc ngay trước ngõ trước khi phải đương đầu với thử thách lớn lao. Chẳng thử thách nào lớn hơn là đời người lính vào lúc ấy. Nhưng liều thuốc tên Lụa ấy có thai ngay và sinh con gái. Nàng đặt tên cho con là Mai Anh, nghĩa là mai anh về, đủ thấy cô Lụa nhớ thương trông mong chồng đến chừng nào. Ngày sinh Mai Anh cũng là ngày đơn vị anh được vội vã điều từ Pleiku xuống sửa, đúng ra là vá víu, quốc lộ 14 từ Pleiku về Phú Bổn, đường đã bị bỏ hoang cả mấy chục năm, đặc biệt làm chiếc cầu phao sinh tử qua con sông nằm ngang quốc lộ. Chiếc cầu đã cứu được rất nhiểu người, dù trước khi cầu xong, đã chết rất nhiều người vì pháo của cộng sản bắn rượt bất kể, vì bị xe cán, vì kiệt sức, vì giành giựt. Đây là chiếc cầu thứ 14 anh tham gia xây dựng, nhưng là chiếc cầu anh nhớ nhất vì nó làm anh đau đớn mỗi khi nghĩ tới và cũng làm anh hãnh diện nhất. 
Anh may mắn được sống sót về được Phú Bổn, được tái phối trí với đơn vị công binh, nhưng rồi cũng rã hàng. Anh về gặp lại vợ con. Những ngày êm đềm, những đêm êm êm không còn nữa với những chiếc loa mồm loa mép giải, những rình rập kiên trì như vắt rừng. Người Bình Định vào lúc đó yêu nước nhiều, nên giết đồng bào ”nguỵ” cũng nhiều, làm nhục thì khỏi nói; ngày quân Đại Nam chiếm được Bồ Đàn còn thua xa. Tất cả còn có thể chịu đựng được, nếu không có những cái loa đêm ngày rêu rao điều nhân nghĩa trong khi thù hận vẫn bày ra đó, như trong lò sát sanh những tay đồ tể vỗ ngực cao rao cái hay cái đẹp của chuyện cấm sát sanh. Loa sắt rồi còn loa thịt. Loa sắt với dạng hình cố định còn chịu được, loa thịt cấu tạo bởi thù hận sắt máu đâu đâu mà chắc như đinh đóng cột, bởi xảo quyệt của những bần nông bao đời làm kiếp chồn, bởi cơ miệng co quắp thiếu tiếng cười dư chửi rủa, khi chu khi loe đủ mọi góc độ. Loa loa loa bao quanh anh, bóp nát tâm trí anh. Anh mệt lã. Anh bây giờ mới hiểu được tại sao rất nhiều người lính đã tự sát trước ngày cái loại người ấy tràn vào. Không phải chỉ có lính, mà cả bà Hiền hàng xóm đã tự tử sau khi nghe bài Tiến Quân Ca vang lên trong đài, và bà vừa khóc vừa nói với con: ”Thôi rồi, tụi bay ơi, tụi nó cử chính cái bài này trước khi bắn ông nội tụi bay.” Cái bài mà bà phải chạy trốn mấy chục năm nay, nay lại mò vào, hung hãn như một con chó ngao âm phủ. 

Người ta mời anh, sau một tuần ”cải tạo” vào làm ngành cầu đường, sở trường có tiếng của anh. Anh nín thở qua cầu. 

***

Ghe anh đi vượt chưa qua biển Đông thì đã được tàu dầu Na Uy vớt. Anh, vợ anh cô Lụa và con gái Mai Anh được chăm sóc chu đáo ngay từ ngày đầu đến Na Uy. Bé Mai Anh đi nhà trẻ. Anh đi học tiếng Na Uy vốn không khó gì lắm với một người rành tiếng Pháp như anh, rồi anh thi lại ngành chuyên môn công chánh và được đi làm ngay vì anh có tay nghề cứng và cũng vì người Na Uy thích xây đường. Họ là những người đến hội nghị bảo vệ môi trường bằng xe hơi. Anh yêu đời, càng trẻ lại và đẹp trai ra, nhất là những ngày cuối tuần, ngày lễ đi dạo phố, trong những bộ đồ vét mới thẳng nếp, rất hợp với dáng người cao ráo, lực lưỡng như anh. Anh bây giờ mới đích thực là anh, hình ảnh một người đàn ông chững chạc thênh thang trong cuộc đời mà anh cương quyết trở thành khi anh đậu bằng tú tài toán toàn phần ở Huế. Lụa học tiếng, học cho có học mà thôi. Rãnh rỗi, Lụa bắt đầu soi gương, để ý làm đẹp cho nhan sắc có phần khiêm nhường: thoa phấn trắng, bôi kem dưỡng da cho làn da cháy nắng lam lũ miền Trung, và nhất là đeo những đôi giày, đôi ủng cao gót để độn cao cái thân hình không được cao lắm của mình. Anh Lê Kỳ thấy thế thời vui. Lụa chỉ lo việc nội trợ. Anh đi làm lương cao đủ sức nuôi cả gia đình, và anh kiêm luôn chuyện kèm và dạy thêm cho con gái Mai Anh toán, dĩ nhiên, và tiếng Việt. Sau khi dạy cho bé Mai Anh xong cuốn Vần Tiếng Việt của cụ Bảo Vân, với bài khó nhất: bài Nhà Ông Bá: Nhà ông Bá lợp ngói, ba gian, có cây mít…, bé Mai Anh đọc được trôi chảy tiếng Việt, anh Kỳ tập cho nó đọc những bài thơ hay. Thơ thì anh có cả một kho trong đầu của mẹ anh truyền lại, và anh truyền lại cho Mai Anh, từ những bài đồng dao Xúc Xắc Xúc Xẻ lúc còn bé, cho đến những bài thơ mới, ngắn như bài Tiếng Thu, dài như bài Tha La Xóm Đạo, và cả bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ nữa, dĩ nhiên, khi Mai Anh đã lớn. Anh còn cho con tập viết bài này và đóng khung để trên bàn viết của mình. Lụa không nói năng gì. Tuy cũng có lúc Lụa thắc mắc tại sao không cho con đọc văn xuôi bình thường như những đứa học trò khác mà lại đọc thơ như vậy, anh trả lời: vì trong thơ có cấu trúc toán học; và dĩ nhiên, Lụa chẳng hiểu gì. 

Thế rồi một hôm anh đi làm về với Mai Anh anh đón từ trường, cha con thấy Lụa nằm gục trong phòng tắm, mình bận áo đầm trắng, thơm thơm Chanel số 5, tóc mới chải, đầu đổ gục cạnh cạnh bồn tắm, chân còn đeo đôi giày cao gót hàng hiệu anh mới mua tặng, mà một chiếc đã bung khuy dây cài văng ra một góc, nhưng Lụa vẫn còn sống, thều thào: 
”Em thử đôi giày…” 

Anh Kỳ cố gọi xe cứu thương nhưng không còn kịp nữa. Lụa nhắm mắt sau khi chỉ còn đủ sức dặn anh: 
”Anh ở lại… Anh ráng nuôi con nên người.” 

”Em không cần phải dặn.” 

”Nhưng anh hứa đi, cho em yên lòng ra đi.” 

”Ừ, anh hứa. Nhưng em sẽ qua khỏi mà.” 


Anh cứ ở thế nuôi dạy con. Anh cũng như cha anh, nghiêm khắc với con cái chuyện học hành. Nghiêm khắc và có dư kiến thức. Mai Anh luôn luôn đứng đầu lớp là chuyện đương nhiên. Khi Mai Anh được nhận vào môn xây dựng, trường cao đẳng kỹ thuật hàng đầu NTH ở Trondheim, anh xin nghỉ công việc lương cao của anh, và với đồng lương trợ cấp thất nghiệp, anh thuê một căn hộ nhỏ gần trường để cha con ở chung, hầu anh có thể tiếp tục giúp đỡ con. Anh nấu cơm, kể cả đưa bữa ăn nóng lên cho con ăn ở trường và kiếm một góc giúp con làm bài tập toán trong ngày. ”Mấy loại toán đó dễ ợt.” Có lần anh khoan khoái nói với tôi như vậy. Sau năm năm Mai Anh đã dễ dàng lấy được cái bằng cao học với số điểm cao nhất, rồi cô có ngay công việc lương cao, địa vị cao trong hãng chế dàn khoan ngoài khơi Aker Offshore, và lập gia đình với người ”môn đăng, hộ đối” với mình về mặt kiến thức và địa vị. 

Anh ra ở riêng, lẻ loi trong một căn hộ nhỏ, đìu hiu, giữa phố phường lạnh lùng nhân tính; người bản xứ chung quanh là những khối bê tông biết đi không hơn không kém; người đồng hương không bom cay, thì cũng là bom gây ói nổ chậm, gần họ thế nào có ngày cũng dính, anh kể với tôi. Bốn bức tường trắng mênh mông với bức ảnh đen trắng của người vợ quá cố ngày ngày nhìn xuống anh như hoài niệm của một thời gian nan chinh chiến, lao đao hậu chiến cộng sản rồi hải ngoại. Anh xin đi làm trở lại, nhưng không được làm ngành cũ như ý muốn, chỉ làm công nhân quèn trong một xưởng máy. Ngày lại qua ngày, nhưng không được như những ngày trước. Mai Anh đến thăm cha luôn. Một hôm nó nói: 
”Ba à, ba hi sinh cho con vậy là đủ rồi. Ba còn phải sống cho ba nữa, mẹ thì không còn sống lại được nữa. 
Man må leve videre4 mà ba. Livet er for kort5.”

Anh Kỳ nhìn con.

 ”Ba à, con có một người bạn gái làm cùng sở, nó có một người dì nó năm nay 30 tuổi, xinh lắm, đang ở Việt Nam. Nó bảo nếu ba muốn, nó sẽ làm mai cho. Livet er for kort. Ba đã 60 tuổi rồi.”
Anh Kỳ im lặng.

”Thôi, ba không cần quyết định bây giờ. Kỳ sau con đến, ba con mình nói tiếp chuyện đó.”

Anh Kỳ mặt đỏ dần.

Mai Anh liếc xéo: ”Mà người ta người đất Thần Kinh đó nghe ba.” Rồi vừa cười vừa ngâm: ”Sao anh không về chơi thôn Vị…” 

Mặt anh Kỳ đỏ gay, những mạch máu nơi cổ, nơi hai cánh tay trườn lên thấy rõ. Chừng như giòng thơ đang hối hả chở đoàn lũ các nường lá trúc che ngang mặt chữ điền dậm dật vào từng mạch máu thăm anh. Em đang hứng, em đang đầy và em đang căng, em có thể hứng và đầy và căng và yêu anh từ chỗ anh đang đi bên em đến bất cứ chỗ nào anh nằm xuống ôm em.
Hơi thở anh Kỳ có chiều gấp gáp. 

    ”Mà chị ta tên gì?”

”Hạ Hương!”

Em đang hứng, em đang đầy và em đang căng…

”Mùa Hạ sông Hương … Hương mùa Hạ nào ủ say trần gian… ” – Mai Anh hát, nghe như tiếng ma nữ thấp thoáng mời người lên đò bến Lú chiều hôm. 

Rồi nó ra về, hôn lên trán ba nó, khoảng ngực trắng, nụ hôn thoang thoảng muôn hương.

Và anh Kỳ ứa nước mắt.

Hạ Hương có khuôn mặt đẹp mà buồn buồn mền mệt gợi mơ mòng ân ái: Omne animal post coitum triste6. Cho nên anh Lê Kỳ lậm ngay, dù chỉ mờ mờ nhân ảnh qua mạng còn thô sơ hồi ấy, đến nỗi anh không mảy may chao động khi nàng cho biết nàng đã li dị và có hai con, con trai 10, con gái 12 tuổi. Rồi hai người toan tính chuyện hôn nhân và sau hôn nhân anh sẽ bảo lãnh luôn cả ba mẹ con sang Na Uy. ”Anh là bóng mát của đời em và hai con em.” Hạ Hương thầm thì tạ ơn chàng. Và trong khi chờ đợi, anh Kỳ che mát đời ba mẹ con bằng những đồng đô la xanh xanh màu lá. Đụng tới đô la, là đụng mọi thứ và qua đó lột trần được mọi thứ. ”Lấy ai không lấy lại lấy gái nạ dòng hai con.” ”Cái giống đàn bà đa trá. Huế đẹp, Huế thơ; ngó lơ mất đồ. Bỏ sớm, không lại thiệt thân!” Câu cuối cùng này, em gái anh nói, khi biết rằng, anh gởi mười ngàn đô về xây nhà và ráp luôn máy bơm nước và xây bể chứa nước cho cha mẹ Hạ Hương cho trọn bộ, ”Để em yên lòng qua bên đó với anh.” – Hạ Hương giọng ân cần, trong khi số tiền anh gởi về cho mẹ già và gia đình trong hai mươi năm anh xa xứ chỉ bằng một nửa.

”Thôi, bỏ người ta tội nghiệp. Mình đã lỡ hứa với người ta rồi.” 

”Sao không tội nghiệp những người ngoài đường luôn đi. Hứa gì mà hứa! Thấy nguy hiểm và mình biết quay lùi thì đâu có gì sai trái. Các cha trên toà giảng gọi đó là phản tỉnh. Tỉnh lại đi anh ơi.” – Em gái anh nói như thế qua điện thoại. 

”Em nói vậy sao được. Cái duyên số nó đã đưa đẩy đến nước nầy.”

”Anh nói năng như một con mụ nhà quê dốt nát. Số với lại phận!” – Em anh nói.

”Nuôi cho mầy ăn học có bằng có cấp hơn người mà sao mày ngu đến như thế.” – Mẹ anh nói.

Những lời nói nặng đến như thế vẫn phải thua đậm tiếng thì thầm của Hạ Hương mỗi đêm. Sau hơn một năm dài nhớ thương trên mạng, anh Kỳ với giấy cho phép tạm trú cho Hương và hai con nàng trong tay, anh háo hức bay về cưới nàng. Chàng phơi phới ra khỏi phi cảng, sau khi đút nguyên 200 đô để qua cửa ải cho lẹ. 
Nhưng chàng rể, sau khi chỉ kịp chào hỏi qua loa với người đẹp, được mấy tay bà con chi đó đưa ngay ra xe bao và đưa ngay ra Huế; anh không được ghé xuống Dầu Giây, Long Khánh để thăm mẹ già (cha anh đã mất) với lý do họ đưa ra là phải đi gấp vì ông công an phụ trách vụ ngoại kiều chịu ký giấy kết hôn cho anh và Hạ Hương đang đợi họ, trước khi ông ta đi gấp ra Hà Nội họp, và công an ngoài đó ganh ghét Việt kiều và hay làm khó dễ, chớ không như trong này. Mọi nghi ngờ, đối kháng còn lại nơi anh Kỳ bị triệt tiêu ngay khi tay cầm tay và nàng kín đáo, nhè nhẹ đặt nụ hôn đầu lên trán anh, khoảng ngực trắng nõn, và cả một trời nhiệt đới hương bay. Anh Kỳ ứa nước giải. 

Sau khi làm giấy hôn thú xong xuôi, Hạ Hương thúc dục anh vào chào mẹ anh ngay, đến nỗi anh không kịp cùng nàng cầm tay đi trên những con đường thành nội, thành ngoại, truờng Đồng Khánh một thủa mà nàng nói nàng hồi trước có học ở đó, được xem lại thôn Vĩ Dạ và bao nhiêu cảnh trí thơ mộng khác như anh đã dự tính trước khi về cưới Hạ Hương. 

Hôm đưa Hạ Hương trở vào Nam, anh kêu cửa mãi nhà mẹ anh, mà không thấy ai mở cửa. Người hàng xóm thấy thế, chạy kêu em gái anh Kỳ, và khi em anh đến, em anh cho biết mẹ anh bị cảm đang nằm trong nhà. Cô em gái kêu mãi bà mới mở cửa. Khi được hỏi, sao bà không mở cửa ngay, bà điềm nhiên nhìn vào mặt Hạ Hương, nghiêm giọng:
”Tao cứ tưởng là kẻ cướp.”

***

Suốt ba năm anh Kỳ sống với Hạ Hương ở Na Uy là thời gian thỏa chí bình sinh nhất của anh. Nàng như một tặng vật cho chàng, mỗi ngày một mới, mỗi ngày là mỗi khám phá kỳ diệu, mỗi ngạc nhiên thú vị trên thân thể nàng, nơi trang phục, nơi lời nói, ý nghĩ. Cái đất Thần Kinh ấy đã trang bị cho nàng một kho tàng văn hoá tinh luyện bao đời vương giả, từ dáng đi nhẹ như không chạm đất, thế nằm nửa như lơi lả nửa kính cẩn hiến dâng, lối ngồi khi cao sang mệnh phụ khi khép nép khiêm cung, cho đến những món ăn nấu khéo như ngự thiện, những tách trà thơm từ tay ngọc thơm. Cùng nhau nhìn mặt trời lặn, nàng có ngay Mặt trời như trái cây tuyệt vọng. Đi dưới cổ thành Oslo, mưa bay nghiêng nghiêng, lòng nàng cũng nghiêng theo Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Ngồi xuống với nhau trên thạch bàn nhìn đá sỏi vu vơ; nàng dặn dò: Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Nằm xõa tóc bên anh trên đồi xanh chiều vắng, nàng liêu trai mền mệt: Về đồi mây thắp hương nằm mộng/Rồi ngủ quên giữa trời mênh mông / Về nguồn xưa gối tay nằm bệnh/ Về cội xưa níu tay nghìn trùng. Khi tôi kể lại cho vợ tôi đôi nét về một Hạ Hương thấm nhuần văn hoá mà anh Kỳ đã hãnh diện kể cho tôi nghe, một Hạ Hương hiện thân của một nền văn hoá Miền Nam nhân bản tôi rất hãnh diện, bả phang ngay: ”Đừng có tưởng bở nghe mấy cha nội. Hồi em ở cư xá sinh viên, em đã từng nghe mấy con sinh viên ở chung phòng làm đĩ với Việt kiều trên mạng, tụi nó còn phun ra những câu thần sầu hơn vậy nhiều.”

Sang đưọc ba năm một tuần, sau khi ăn mừng vì được giấy cư trú vĩnh viễn, nàng Hạ Hương người bỗng tắt hẳn hương phấn, cứ than mệt mỗi khi vào giường, cằn nhằn mẫu giấy anh đánh rơi, chén trà anh chưa kịp cất. Hai đứa con đi học về không chào ”Thưa ba con đi học về” nữa, mà lầm lầm lì lì. Rồi ba mẹ con lựa quần áo bỏ vào va li và bảo là sẽ đưa xuống bỏ vào thùng thâu quần áo cũ của hội từ thiện. Rồi Hạ Hương bắt đầu hỏi tiền.

”Tiền gì?” Anh Kỳ sửng sốt. ”Anh một mình đi làm, chỉ đủ trang trải tiền nhà, tiền ăn, và mọi chi phí trong nhà, rồi tiền hằng tháng gởi về cho cha mẹ em, tiền túi cho em và mấy đứa. Tháng nào hết tháng đó.”
Mặt Hạ Hương đanh lại, lá trúc không còn che nổi mặt chữ điền, đưa tay chỉ vào mặt anh Kỳ 63 tuổi, nói như mãng xà rít:
”Nì, lâu nay tui nhịng, tui khôông noái đó nghe, chơ tui biếc dư là khi eng độc thân eng phải đóng thuế cao loại mộộc, còn khi eng có vợ có coon chíng phủ chỉ bắc eng đóng thuế bậc hai, chêng nhau mỗi tháng cả chục nghìng kroner chơ khôông ííc. Khôông có mẹ coong tui làm chi eng được bộn tiềng rứa. Tiềng eng, eng cứ thủ, eng bỏ nhà băng, eng để mẹ coong tui tơ bơ tấc bấc như tụi ăng mày.”

”Em đừng nói quá như vậy. Chơ tiền phụ cấp trẻ em của hai đứa, em lãnh em giữ mà.”


Hạ Hương tru tréo:
”Trời ơi là trời, người chi mà bầầng tiệng. Tiềng của chíng phủ cho coon nííc, chơ phải của eng mô, mà eng xót lòng xót dạ. Thiệệc là ôốc dộộc!”

”Anh tốn tải biết bao nhiêu cũng chỉ để xây dựng gia…”

Anh Kỳ chưa nói hết câu, thì từ ngoài hành lang có tiếng ngâm e e của thằng con trai Hạ Hương:
”Bắc thang lêng hoải Ôông Trời

Tiềng mà cho gái có đoài được khôông?”

Còn cô con gái lâu nay e dè, khép nép trước mặt anh, trề môi:
”Tiềng tróóc đúút lổ, thang khổ nỗi chi.”

Anh Kỳ giận tím gan, nhưng sau đó anh vẫn nghĩ đấy chỉ là những điên loạn nhất thời của những con người cùng khổ, vì nghèo khổ quá lâu, nên chuyện coi đồng tiền là tiên là phật đã trở thành quán tính, nên mới cạn tàu ráo máng với anh đến như vậy, và anh vẫn tin Cái Thiện vẫn còn nằm trong đáy lòng họ, nhất là nơi Hạ Hương, một người đàn bà hương sắc, văn hóa thuần nhã đến như thế. Anh im lặng và đi làm chờ ngày lương tri hồi sinh. Nhưng một ngày kia anh đi làm, về nhà không thấy mẹ con Hạ Hương đâu nữa; chỉ thấy chiếc bì thư không với tiêu đầu sở ngoại kiều UDI đã mở bỏ trên bàn ăn vừa như để thông báo lý do ra đi của họ, vừa như để cười vào mặt cái ông kỹ sư Lê Kỳ. Tấm hình đen trắng của người vợ chân quê quá cố mà anh đã gở xuống bỏ vào rương trong nhà kho dưới hầm trước khi rước Hạ Hương sang đang bay thấp thoáng trên tường và nhìn xuống anh bĩu môi. 

***

Mai Anh vừa đi làm vừa tiếp tục nghiên cứu ngành của mình, và ba năm sau bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Ngày ấy anh Kỳ vừa bồng cháu ngoại vừa nghe con mình thuyết trình luận án. Ngày vui nhất đời anh. Bài phỏng vấn của Mai Anh với chuyện hi sinh, nuôi dạy con của cha cô được đăng tải trên các tờ báo lớn. Cha xứ lấy trường hợp cô, một cựu học sinh lớp hè tiếng Việt của giáo xứ, để chứng minh rằng học tiếng Việt chẳng những không gây trở ngại mà còn làm cho các học sinh học giỏi hơn. Hội Người Việt lại được thêm một trường hợp ”vẻ vang dân Việt” dán lên tường. Khi biết tin Mai Anh đậu tiến sĩ, nhìn hai đứa con tiểu tốt của mình, Hạ Hương bỗng khóc nức nở. Ngay ngày sau Hạ Hương tìm đến văn phòng của Mai Anh và đứng chờ. Vừa thấy Mai Anh đi ra, Hạ Hương chạy lại. Sau vài câu chào hỏi xã giao, Hạ Hương năn nỉ: 
”Con về nói với ba Kỳ cho me trở lại đi. Me rất ân hận.”

”Bà bỏ ba tôi bà đi như vậy mà bà còn trở lại được sao?”

”Tại mấy đứa em của me, tụi nó xúi.”

”Bà là người lớn, bà phải chịu hậu quả của sự chọn lựa của bà.”

”Me thì me chịu mọi hậu quả, nhưng tội nghiệp cho hai đứa con của me, giờ tụi nó học hành chẳng tới đâu cả. Giá mà me còn ở với ba con, thì nhờ ba con dìu dắt, kèm cặp, giờ nầy chúng nó không vào được đại học, thì cũng cao đẳng. Thì như con đó, nhờ ba con giờ con mới nên danh nên phận, có đâu như hai đứa con của me… Mà ba con lúc trước cũng hứa là sẽ dạy mấy đứa…” Rồi Hạ Hương ôm mặt khóc, mặt hốc hác, thảm thương như mọi bà mẹ Việt Nam mong cho con nên người mà không được. 

Mai Anh đã biết cái sự trọng chữ tín đã làm khổ đời ba cô như thế nào, nên nói dối tỉnh bơ, làm chính cô cũng nhạc nhiên về cái tỉnh bơ của mình, vì thực sự lúc đó anh Kỳ vẫn còn ở vậy.

”Muộn rồi, thưa bà. Ba con đã có người khác rồi.”

Hạ Hương từ vai hiền mẫu bước ngay qua vai bà chằng, từ đất Thần Kinh nhảy sang chợ Cầu Muối:
”Chồng tao ở Việt Nam bảnh gấp mười lần thằng cha Kỳ tao con bỏ cái một nữa lợ. Già khú đế mà phách lối.”

***

Tết năm nay, tôi xin nghỉ ở nhà ăn tết và đồng thời trốn lạnh đôi ngày. Một mình, thấy trống trải lạ thường. Bỗng nghĩ đến anh Kỳ mà đã lâu chưa gặp lại, tôi bốc điện thoại vừa để chúc tết anh vừa đàm đạo cho ấm ngày xuân lạnh lẽo, thì nghe đầu giây bên kia giọng một người đàn bà, đúng hơn giọng của một cô gái trẻ, trẻ qua giọng nói trong veo và tươi vui:
”Dạ em là Hương, Xuân Hương, vợ anh Kỳ. Dạ em được hân hạnh hầu chuyện với ai vậy ạ?”

Tôi ngạc nhiên, và bỗng cảm thấy vui, thấy hứng khởi như đang đọc một cuốn tiểu thuyết mà đụng tới chỗ có gút truyện hấp dẫn, gay cấn, tôi xưng tên và nói tôi là bạn anh Kỳ và muốn gặp anh Kỳ nói chuyện. Cô nàng vui vẻ, lễ phép:
”Dạ nhà em đang đi ra sứ quán Việt Nam để lấy chiếu khán, rồi mai về Việt Nam.”

”Vậy hả! Vậy thì vui rồi. Mà ở Việt Nam chị ở đâu?”

”Dạ, em ở thôn Vĩ Dạ. Em bán cà phê ở đó.”

Có cái gì đó thôi thúc tôi hỏi một câu rất bất lịch sự:
     ”Vậy anh Kỳ gặp được chị ở đó à?”

”Dạ. Anh Kỳ nói anh đi loanh quanh suốt mấy ngày ở thôn Vĩ, bữa cuối cùng mỏi chân, vào quán Xuân Hương của em…”

”Vậy thì chúc mừng anh chị. Mà anh chị cưới nhau đã bao lâu rồi?”

”Dạ được gần ba năm rồi… Ồ, quên, được ba tháng… ”

”Chắc cuối năm sẽ có con cho anh Kỳ bồng.”

”Dạ, chắc không có đâu. Mà có hay không, không quan trọng. Chúng em đã có 14 đứa con ở Việt Nam rồi.”

Tôi ngớ người:
”Chị nói gì tôi không hiểu.”

”Thì anh Kỳ lúc làm kỹ sư công chánh ở Việt Nam trước đây, anh đã xây được 14 cái cầu ở Việt Nam. Đó là những đứa con tinh thần của anh ấy, là những tặng vật anh ấy để lại cho đời. Con anh ấy cũng là con em. Năm nay em đòi anh ấy đưa em về thăm đứa con thứ 14, đó là chiếc cầu phao anh chỉ huy làm ngày 16 tháng Ba năm 75 trên con sông chạy ngang qua quốc lộ 14 từ Pleiku đi Phú Bổn trong cuộc di tản chiến thuật kinh hoàng. Dù bây giờ cầu không còn, nhưng anh Kỳ và em sẽ đi thăm khúc sông đó. Và anh Kỳ sẽ thắp hương với em ở đó cho các đồng bào thọ nạn cùng tử sĩ năm nào. Những chiếc cầu khác anh ấy đã dẫn em đi thăm những lần trước anh ấy về thăm em.”

”Trời đất, chị nói vừa như một triết nhân vừa như một thi sĩ. Chỉ có người đất Thần Kinh mới nói được như vậy. Như Trịnh Công Sơn, như Trần Vàng Sao, Nhã Ca, Túy Hồng và còn nhiều nữa, những văn nhân, nghệ sĩ kỳ lạ của xứ Huế.”

”Dạ, anh nói quá, em làm chi mà sánh được với mấy người nớ…”

Tôi bỗng thấy mùa xuân bây giờ mới thực sự đến, những cánh tuyết rơi mịt mù gây nản ngoài khung cửa bỗng biến thành muôn muôn cánh hoa đào hân hoan mưa xuống Na Uy băng giá. Tôi mừng cho Đất Nước tôi. Tôi mừng cho anh bạn Kỳ cuối cùng đã tìm được người lá trúc che ngang mặt chữ điền thứ thiệt. 
Năm nay bà xã tôi về Việt Nam ăn tết.

Nguyễn Văn Thà


Oslo, 22 XII 2012

Chú thích:
1. Của Túy Hồng.
2. và 3. Thơ Nhã Ca. 
4. Người ta phải tiếp tục sống. 
5. Đời người quá ngắn ngủi. 
6. Mọi loài thú đều buồn buồn sau khi giao cấu. (Ngạn ngữ La Tinh).
Còn những câu sau là của Trịnh Công Sơn.
   **Nhân vật, sự việc trong truyện là sản phẩm của trí tưởng tượng (mặc dầu không có chuyện tưởng tượng nào dựa trên hư vô). Vì câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ điền trong bài thơ về thôn Vĩ, xứ Huế là sợi chỉ đỏ xuyên suốt truyện, nên các nhân vật nữ phải là người xứ Huế; và các nàng-nhân-vật đó được tác giả vẽ ra từ những quan sát của tác giả về một số phụ nữ Huế đặc thù từ một tập thể phụ nữ Huế có kẻ tốt lẫn người xấu. Không ai kết án Nam Cao là kỳ thị người làng Vũ Đại, khi ông dùng các người làng Vũ Đại để dựng lên các nhân vật ”xấu” và ”xấu xa” tới mức điển hình trong các tác phẩm của ông - Tác giả. 

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Vừa nhắm vào văn hoá viết vừa nhắm vào văn hoá đọc, trong cuốn sách này, đề cập đến mấy vấn đề chính: vai trò của lý thuyết, chức năng điển phạm hoá (canonization) và giải điển phạm hoá (decanonization) của phê bình, nhu cầu đổi mới, đề tài chiến tranh trong quan hệ với hiện thực và với quá trình tái cấu trúc ký ức tập thể, ý nghĩa của văn hoá tục, tính văn bản và liên văn bản của văn học, lưu vong với tư cách một phạm trù mỹ học, và cuối cùng, việc du nhập chủ nghĩa hậu hiện đại vào văn học Việt Nam. Ðó là những vấn đề căn bản và quan trọng nhất hiện nay.

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu

Giới thiệu

Giới thiệu
Tìm hiểu về văn học lưu vong, do đó, thực chất là tìm hiểu về tính chính trị, thi pháp và ngữ nghĩa học của gạch nối (semantics of the hyphen). Cái dấu gạch nối ấy là cái ở giữa (in-betweenness), là không gian xuyên quốc gia (transnation), xuyên văn hoá (transculture) và xuyên ngôn ngữ (translanguage).