Nguyễn Ðức Tường
Mỗi
năm hoa đào nở
Lại
thấy ông đồ già
Bày
mực tàu giấy đỏ
Bên
phố đông người qua…
Mỗi lần Tết đến,
tôi thường có dịp đọc lại bài thơ Ông Đồ Già của
Vũ Đình Liên in trong một tạp chí nào đó. Mùa xuân và
hoa đào. Tác giả đã mượn hình ảnh hoa đào trong một
bài thơ nổi tiếng của Thôi Hộ, nhưng, oái oăm thay,
đáng lẽ thiếu nữ, ông lại cho hoa cặp kè với một
ông đồ già. Người thiếu nữ trong mấy câu thơ đài
các của Thôi Hộ đến rồi đi, như con thoi; ta không biết
cô đẹp xấu bao nhiêu nhưng qua nét chấm phá của nhà
thơ đời Đường, ta tưởng tượng là cô phải đẹp…
ghê lắm. Còn Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên? Qua năm khổ
thơ bình dị, mộc mạc, ta hình dung một nhà nho cũ kỹ,
khăn đóng, áo the, thoáng thấy lại một thời thanh bình
với mẫu người mẫu mực, một đời sống vật chất eo
sèo, đạm bạc nhưng an nhàn, lương thiện. Đem so sánh
với thiếu nữ của Thôi Hộ, tất nhiên ông đồ bị lỗ
vốn quá rồi tuy không đến nỗi là một “kẻ thân tàn
ma dại” đang “đi về cõi chết” như Hoài Thanh đã
viết. Riêng đối với tôi, Ông Đồ Già bao giờ cũng
mới, luôn luôn cho tôi một cảm giác bùi ngùi, man mác
khó tả. Nó cũng khiến tôi nghĩ đến thày giáo Công.
Thày giáo Công là bạn
sơ giao của ông nội tôi. Khi tôi biết ông vào mùa hè
năm 1943, ông đã về hưu dù tuổi chưa lớn lắm. Khác
với ông đồ già của Vũ Đình Liên, một hình thái trừu
tượng, tượng trưng một cái gì đã qua, thày giáo Công
là một người rất thực, có đầy đủ phong cách chắt
lọc của một nhà Nho, bao gồm chữ nghĩa, nhân cách cùng
nếp sống. Sung túc hơn, ông không phải viết chữ kiếm
ăn. Ông là một trong những người cuối cùng còn sót lại
từ trường thi Nam Định; ở trường thi này, tôi nghe
nói, ngoài thi phú, thí sinh còn phải thi cả toán pháp. Có
lẽ vì vậy, trong trí hiểu biết bé nhỏ của tôi, ông
là một người rất giỏi toán, đã chỉ bảo tôi nhiều
điều mới lạ. Tất nhiên ông là một ông đồ vì ông
cũng dạy chữ Nho, nhưng là một ông đồ “tân thời”
vì ngoài chữ Nho, thượng vàng hạ cám, ông còn dạy
nhiều thứ khác, kể cả tiếng Anh, cho vài đứa nhỏ
nữa.
Thị xã Hải Dương,
khoảng đầu thập niên 1940, những ai sống ở quanh khu
phố Hàng Lọng có lẽ đều biết hay đã theo học thày
giáo Công. Mở trường dạy học, đúng hơn, một thứ nhà
giữ trẻ không công (hay rất ít công), lớp học của ông
không tiêu điều, “nhà trống ba gian… học trò dăm
đứa…” như lớp học của ông Tú Vị Xuyên. Ông có
chừng năm chục học trò vào mùa hè, ít hơn trong năm
học. Hàng năm, vào dịp Tết, học trò mâm lớn, mâm nhỏ,
lũ lượt đến biếu thày vài ba gói trà, hoa quả, bánh
mứt. Theo tôi biết, đó là tất cả học phí phải trả
thày. Thế thôi!
Nhà trông ra mặt phố
ở thị xã thường là nhà hai tầng, gian lớn nhất, ngoài
cùng là phòng khách bên trong là phòng ngủ. Một lối đi
nhỏ riêng biệt cạnh buồng ngủ dẫn đến cái sân bên
trong, tiếp đó là nhà ngang rồi bếp. Thày giáo Công sở
hữu một trong những căn nhà này. Lớp học của ông là
căn nhà ngang, kê được mươi bộ bàn ghế học trò dài,
ngoài hàng hiên là cái bàn vuông lớn bằng gỗ gụ, thày
ngồi giữa, học trò ngồi xung quanh. Những ngày không
mưa, học trò còn ngồi kín cả bậc thang, cạnh sân, bên
cạnh núi non bộ và bể cá vàng.
Mỗi buổi sáng mùa
hè, khi còi tầm của nhà máy rượu réo lên, là học trò
đã đến đầy lớp học. Ông thong thả đi từ trên gác
xuống, tay cầm chiếc roi mây. Ông ngồi xuống ghế, dáng
vẻ phong lưu; búi tóc nhỏ sau gáy, kính trễ trên sống
mũi, điếu thuốc lá sâu kèn lơ đãng bên mép, cánh tay
áo lụa rung rung khẽ đập roi xuống mặt bàn, ông đếm
“một, hai, ba” cho học trò cùng hát trước khi bắt đầu
học,
Bóng
trăng trắng ngà,
Có
cây đa to,
Có
thằng cuội già,
Ôm
một mối mơ…
Chiếc roi mây của
ông, một đầu nát bươm, vì đập xuống mặt bàn để
ra oai chứ không phải vì nó thường tìm đúng đích. Trừ
hai lần. Lần thứ nhất, “thằng” Thiện, cũng con nhà
lành thôi nhưng nghịch ngợm hơn những đứa trẻ khác,
thay vì “một ông trăng béo thật to,” Thiện hát tiếng
hơi vang quá “một ông trăng béo, c... to.” Học
trò bấm bụng nhịn cười, nhưng ông đã nghe thấy, ông
nghiêm nghị, điềm đạm đưa mắt nhìn quanh lớp. Sau khi
hát xong, ông gọi Thiện lên, bảo xòe tay ra. Rất nhanh,
ông đét cho nó một roi. “Ối, con lạy thày,” nó kêu.
Lần thứ nhì cũng
vẫn là Thiện. Ở chân cầu thang là bể cá vàng và núi
non bộ. Học trò thường ngồi khom dưới đất, chép bài
trên thành bể, ném bỏng cho cá ăn, xem cá bơi lòng vòng
quanh mấy cây si, dưới mấy chân cầu hay trước mặt ông
Lã Vọng ngồi câu nhưng không bao giờ được cá. Một
hôm, Thiện dụ cá đến cho ăn, rồi cầm bút đâm đâm
khi cá đớp. Trong khi nó mải mê săn mồi thì ông trông
thấy. Cầm roi, dón dén đi như con cò ruồi, ông đến sau
lưng nó, học trò nín thở, “Vút!” – “Ối, con lạy
thày,” Thiện giật mình kêu; đồng thời khi lưng áo và
chiếc roi mây gặp nhau, cột nắng nhỏ trên lưng nó biến
thành cột bụi.
Tôi không biết lý do
nào đã khiến ông dạy tiếng Anh cho “con” Loan. Ngày
ấy, tiếng Anh là một ngoại ngữ đến từ hành tinh
khác, nhất là ở một tỉnh lỵ như Hải Dương, kiếm
thày dạy tiếng Anh không khác gì đi kiếm gà sống có
răng. Chính Loan đã bảo cho tôi biết “oẳn tù tì” là
tiếng Anh. Mặc dù được bắt đầu học sớm như vậy,
tôi không biết cô giữ được bao nhiêu và không dám bảo
đảm về sự chính xác cùng khả năng Anh ngữ của cô.
Tôi mon men đến ngồi cạnh Loan (việc Loan là con bé xinh
đẹp dễ thương nhất lớp là chuyện khác,) hy vọng xin
được ông cho học tiếng Anh. Fat chance! Ông nội
tôi đã gửi gấm, xin ông cho tôi ít chữ nghĩa thánh
hiền.
Trước hết, thay vì
vẽ, ông dạy tôi viết chữ Nho (“Viết trái
cựa người ta cười cho!”). Một hôm, tôi phải chép câu
chữ Nho mà tôi không còn nhớ câu dịch âm cùng xuất xứ
của nó tự sách nào, câu này được dịch nghĩa là
“Người ta sinh ra tính vốn lành như nước chảy xuống
chỗ trũng…” Nước chảy xuống chỗ trũng thì đúng
rồi, nhưng sự việc đó cũng như, thí dụ, “chim hay hót
buổi sáng,” không ám chỉ người ta sinh ra tính vốn
lành hay dữ. Tôi không nhớ đã đặt câu như thế nào để
hỏi ông, nhưng như tôi hiểu ngày nay, ý chính của câu
hỏi đó là “nước chảy xuống chỗ trũng” không chứng
minh được gì cả, chắc chắn là không chứng minh được
“người ta sinh ra tính vốn lành.” Ông nhìn tôi hồi
lâu, chưa kịp trả lời thì đã phải bỏ ngang, cắt
nghĩa bài cho học trò khác.
Thày giáo Công không
có dịp trả lời câu hỏi của tôi, nhưng tôi nhận thấy,
từ đó, ngoài chữ Nho, ông thường giảng cho tôi khoa học
thường thức, dạy tôi toán pháp. Chính ông là người đã
tập cho tôi cái thú (hay thói quen) đọc sách, nhất là
sách thuộc loại không hư cấu, đời sống các danh nhân,
những con người khác thường nhưng rất thực; đó là
một cái thú còn tồn tại mãi mãi trong tôi. Một trong
những cuốn sách đầu tiên ông bảo tôi đọc là tiểu
sử của Marie Curie, ở bà tôi nhìn thấy bột phát sáng
chói của thiên tài thường là kết quả của một tình
yêu tha thiết trong việc đi tìm cái mới, là những ngày
dài bất tận, làm việc lương thiện, cần cù, tỉ mỉ,
không bỏ qua một chi tiết dù nhỏ.
Trông một lớp chừng
năm chục học trò, đủ hạng, đủ kiểu, tất nhiên ông
không có thì giờ nhiều cho riêng học trò nào. Ông dạy
tôi toán như một trò chơi, giầu về thí dụ cụ thể,
không bao giờ nặng về hình thức. Chẳng hạn như ông
dạy tôi cách chia phân số,
“Một nửa cái bánh
đem chia làm hai thì được bao nhiêu?”
“Dạ, thưa thày, một
phần tư cái bánh.”
“Vậy ta suy ra một
phần hai chia cho hai được một phần tư.”
Đại khái như vậy,
cứ “làm như thế, như thế…”, một lúc thuận tiện
nào đó, cái bánh hay vật dụng đi liền với phân số
đột nhiên biến đi, còn lại là phân số. Ông dạy cách
viết cho phải phép, rồi cho mấy bài tập để làm một
mình. Trong trường hợp tôi, khi thấy đã thực hiểu, ông
thường bảo tôi đi giúp những học trò khác.
Ông không dạy theo
một chương trình hay thứ tự nào nhất định, nhiều khi
có lẽ hoàn toàn tùy hứng. Một dịp nào đó, ông dạy
tôi tính căn số của một con số mà ông gọi là cỗi
rễ bậc hai (2 nhân 2 là 4; ta nói bình phương của
2 là 4 và căn số của 4 là 2). Theo tôi biết,
tính căn số không chính thức thuộc chương trình nào,
tiểu học hay trung học. Sau này dạy học, hết khóa học,
sau khi sửa soạn sinh viên về chuyện thi cử, đôi khi còn
chút thì giờ tôi hỏi họ có biết tính cỗi rễ bậc
hai bằng tay hay không? Thỉnh thoảng có người hỏi lại,
học để làm gì khi chỉ cần ấn một cái nút ở máy
tính là đủ. Tôi trả lời: “Rất đúng, với máy tính
cầm tay có khi biếu không, ta dễ dàng có được kết quả
với 12 số lẻ, trong khi có lẽ chỉ cần sáu số lẻ là
đã đủ tốt để gửi người lên mặt trăng. Nhìn cách
này, đó là một việc làm hoàn toàn vô ích; có điều,
ta biết ta có thể tính được số lẻ thứ 13. Vì vậy,
cũng nên biết, rồi đem dấu nó vào một khe kẽ của
hành trang tinh thần ta phải mang theo trong đời sống.”
Nhiều sinh viên tỏ vẻ hài lòng, ngồi học thêm cách
tính cỗi rễ bậc hai.
Một dịp khác, ông
dạy một món gọi là lấy đấu đong quân, cũng có
tên khác là “Hàn Tín điểm binh” nhưng tôi thích cái
tên lấy đấu đong quân vì nghe vui tai, thi vị hơn
– tạp chí Khoa Học của GS Hoàng Xuân Hãn xuất bản
khoảng đầu thập niên 1940 cũng có một bài nói về Hàn
Tín điểm binh. Đây là một bài toán rất xưa mà theo các
sách toán Tây phương, người đầu tiên khảo cứu là Tôn
Tử. Bài toán như sau: Có một số quân không biết bao
nhiêu mà ta muốn đếm. Có nhiều cách đếm, một trong
những cách đếm là lấy... đấu để đong. Ta đong số
quân đó theo ba cách khác nhau, như thế này: lấy cái đấu
đong 3 anh quân một lần, không cần biết được bao nhiêu
đấu nhưng biết là, cuối cùng, thừa ra 2 anh; lấy cái
đấu đong 5 anh quân một lần, thấy thừa ra 3 anh và, sau
cùng, lấy cái đấu đong 7 anh quân một lần, cũng thấy
thừa ra 2 anh. Nếu thấy dùng đấu để đong cồng kềnh
quá, ta có thể cho quân xếp hàng 3, hàng 5, hàng 7, mỗi
lần ghi nhớ số quân lẻ cuối cùng. Hai cách này tuyệt
đối tương đương với nhau. Giả dụ được cho bài toán
trên, tôi sẽ ngồi “làm như thế, như thế…” chừng
vài phút, “có 128 quân.” Đúng boong! Thật ra, bài toán
này có nhiều đáp số khác, đáp số nhỏ nhất là 23;
nhưng thôi, đó là chuyện khác.
Thêm một bài toán
dân gian rất quen thuộc: “Vừa gà vừa chó 36 con, trói
lại cho tròn, đếm đủ 100 chân. Hỏi có bao nhiêu gà,
bao nhiêu chó?” Ông rất cẩn thận dạy giải bài toán
bằng số học, dùng phép mà ông gọi là phép giả thử.
Phép này bắt đầu lý luận bằng cách giả thử tất
cả 36 con đều là gà (hoặc chó), nhưng lý luận này
không thật dễ hiểu. Sau đó ông dạy cách giải bằng
algèbre (ông không dịch là đại số), tôi nghe phát
âm là ăn-giép. Muốn dùng ăn-giép hay đại
số, ta chỉ việc thay số chưa biết bằng một chữ, thí
dụ x, rồi làm tính như thể chữ đó là một con số đã
biết rồi. Để bớt dài dòng lôi thôi, trong bài toán
này, thí dụ ta có x con gà thì ta sẽ có 36 trừ x con chó
hay (36 - x) và tổng cộng số chân gà là 2 nhân với x hay
2x. Cứ theo cách đó mà tiếp tục, “tất nhiên,” trong
khi làm tính, ta có những phép tính, thí dụ, 4x mà trừ
đi 2x thì còn lại 2x hay đem 4x chia cho 4, ta được x vân
vân, đến một lúc ta sẽ được x = 22 con gà và, do đấy,
14 con chó. Ông dạy phép giả thử trước vì ăn-giép
dễ dùng quá, một khi đã biết dùng ăn-giép thì sẽ
không bao giờ trở lại làm số học nữa.
Niên học 1945, sau 80
năm làm sứ mệnh khai hóa và chỉ sau khi nước Pháp,
trong thực tế, đã chấm dứt nhiệm vụ này vì bị Nhật
đảo chính ngày 09-03-1945, thị xã Hải Dương, lần đầu
tiên, có được một trường trung học, trường Nguyễn
Bỉnh Khiêm, công trình cụ thể của Bộ Giáo Dục của
GS Hoàng Xuân Hãn. Nhà tôi có hai anh họ xa đến ở nhờ,
trọ học. Một hôm, tôi nghe hai anh tranh luận rất hăng
say về toán. Tôi lắng tai nghe, các anh đang cãi nhau về
một bài tính ăn-giép.
“Tưởng gì, tính
ăn-giép thì em làm được!”
Hai anh là học trò
cô-le, không phải chuyện đùa, tròn mắt nhìn thằng
ranh con ăn nói xấc xược, bậy bạ nhưng bằng lòng cho
thử. Thằng ranh con ngồi “làm như thế, như thế…”
trong vài phút, giải được bài tính ăn-giép!
Đó là một số thành
tích tôi thu lượm được từ thày giáo Công. Trong hai vụ
hè, kiểm điểm lại, ông dạy tôi có lẽ đủ toán để
có thể qua được trung học phổ thông một cách khá
thoải mái. Toán học phương Đông có lẽ không có một
hệ thống giống như phương Tây, nhưng cũng khá phát
triển, Hàn Tín điểm binh là bài toán cổ đã 2000 năm;
tôi chưa được đọc về cách các cụ ta học toán ngày
xưa. Riêng thày giáo Công, tiếng Anh ông học ở đâu
đó, tiếng Pháp ông phải biết đôi chút vì đi thi có
bài dịch. Một vài khái niệm khác, như ăn-giép, có
thể ông đọc trong sách của anh Ngọc, con trai trưởng
của ông. Hè năm 1944, anh Ngọc thi đỗ đíp-lôm về,
mặt ông rạng rỡ, kiêu hãnh như chỉ một ông bố có
con thi đỗ đíp-lôm ngày ấy mới có thể rạng rỡ,
kiêu hãnh đến thế. Ông cho cả lớp ăn bánh kẹo. Chính
trong dịp này ông dạy tôi ăn-giép.
Nhưng còn một số
vấn đề tôi nghĩ không thể đến từ sách vở của anh
Ngọc. Với vài thí dụ giản dị, ông chỉ cho tôi biết
không có con số nguyên tố lớn nhất (số nguyên tố là
số không thể chia cho bất cứ số nào ngoài số 1 và
chính nó, thí dụ: 2, 3, 5, 7,…) Mãi mãi về sau, tôi mới
biết phát biểu trên là một định lý của Euclid, nhà
bác học Hy Lạp đã đặt nền móng cho toán học từ hơn
2000 năm nay và chứng minh định lý về số nguyên tố của
ông, theo người sành điệu, thuộc loại đẹp và thanh
lịch nhất trong toán học. Anh Ngọc mới đỗ đíp-lôm,
trong chương trình trung học của Pháp, chỉ đến Tú Tài
II, định lý Euclid mới xuất hiện. Các cụ ta không thiếu
gì người bác học, không rõ sức hiểu biết về toán
của các cụ sâu đến đâu? Đó là một đề tài khảo
cứu hấp dẫn.
*
Rồi chiến tranh chống
Pháp. Mỗi người một nơi, tôi không gặp lại thày giáo
Công, nhưng tôi không bao giờ quên ông, luôn luôn hy vọng
có được dịp bù lại mấy món quà Tết eo sèo đã biếu
ông.
Ở gần nhà tôi có
một gia đình dân nhập cư Hy Lạp. Một hôm, người bạn
nha sĩ hàng xóm nói ông người Hy Lạp dạm hỏi tôi có
thể dạy kèm đứa con gái nhỏ của ông được không,
ông ta sẽ xin trả tiền thù lao sòng phẳng? Tôi trả lời
tôi không dạy tư, rồi đùa hỏi liệu ông ta có sẵn
lòng trả công bằng công thợ sửa ống nước không, thế
nào chăng nữa, cứ cho con gái ông ta sang xem sao? Nói
chuyện với đứa nhỏ, chẳng mấy chốc tôi nhận thấy
nếu nhất định trả tiền thù lao, ông ta sẽ tốn nhiều
hệ thống dẫn nước trong nhà. Tôi nói tôi sẵn sàng kèm
đứa nhỏ hai giờ một tuần và ông không cần phải bận
tâm về vấn đề thù lao. Không rõ vì ông quá kiêu hãnh
hay vì không cảm thấy thoái mái về chuyện không phải
trả tiền thù lao, con ông đến học với tôi vài lần
rồi xin thôi.
Chính biến ở Việt
Nam cho tôi mấy dịp khác. Gia đình bạn tôi dọn đến ở
cùng thành phố. Ông bà hỏi bác có sẵn lòng kèm cháu
học không? Tất nhiên là bác sẵn lòng kèm cháu học. Tôi
dạy cháu như thày giáo Công đã dạy tôi: cẩn thận
nhưng tùy hứng. Thí dụ, có bao nhiêu cách xếp bàn ăn có
sáu chỗ ngồi với sáu người khách? Hai bác cháu rất
hợp ý nhau, nhưng không hiểu sao ít lâu sau bạn tôi xin
cho cháu nghỉ học. Cho đến bây giờ tôi vẫn không rõ
vì tôi không thành công hay đã quá thành công. Cháu đã
ra trường từ lâu, hành nghề bác sĩ hơn mười năm nay.
Dịp may cuối cùng.
Ti, em của một bà bạn, tâm sự với tôi các cô chỉ để
ý đến bác sĩ, kỹ sư thôi, còn phó thường dân như Ti
thì các cô hếch mũi nhìn qua suốt. Vì vậy, Ti quyết chí
học cho thành tài và muốn xin tôi giúp. Ý định tốt, lý
do xấu. Nhưng ta là ai mà luôn luôn muốn mọi điều kiện
phải thập phần hoàn hảo? Ta phải biết bằng lòng với
những gì ta có. Tôi nghiến răng dạy, Ti nghiến răng học.
Tôi sửa soạn cho Ti học hết toán cơ bản. Sau này, Ti
kể, “có lần anh mắng em, anh bảo óc mày không chịu
làm việc, ngộ nó teo lại bằng cái hạt đậu rồi biến
mất thì sao?” Tôi cười hỏi lại, “thật hả?” nhưng
trong thâm tâm hơi ngượng, thày giáo Công không bao giờ
mắng tôi thô tục như thế. Quyết chí học như Ti thì
thi bằng gì cũng đậu và ai dạy cũng được. Ti ra
trường, ông kỹ sư nọ kia. Hàng năm, Tết đến, biết
tôi hay uống cà-phê, Ti mang cho tôi máy pha cà-phê. Đến
Tết thứ ba, tôi có tới ba máy pha cà-phê, tất cả đều
tốt. Tôi bảo Ti đến chơi với anh là quý lắm rồi,
đừng quà cáp làm gì; vả lại, nếu muốn cảm ơn thì
Ti nên cảm ơn thày giáo Công. Ba máy pha cà-phê tôi dùng
được khá lâu; tôi nghĩ đến những chùm nhãn, những
quả soài thày giáo Công chất đống trong nhà trong mấy
ngày Tết, chắc ông có vấn đề.
*
Năm 1945 là năm có
nhiều biến động lớn trong lịch sử Việt Nam. Tết Ất
Dậu năm ấy, tôi đem quà Tết đến biếu thày giáo Công
như thường lệ. Khi ấy tôi đang học lớp Nhì. Ông xoa
đầu tôi, nói hè tôi sẽ phải học nhiều chữ Nho hơn,
cho ông nội tôi vui lòng. Nhưng tôi không có dịp trở lại
học với ông nữa. Ngay trong dịp Tết này đã có nhiều
điềm xấu báo hiệu những tai ương sắp đến. Anh Nhan,
người làm cũ cho gia đình tôi, đã xin thôi từ mấy năm
trước để về quê làm ăn, đột nhiên xuất hiện, đi
ăn xin. Rồi nạn đói khủng khiếp hoành hành, chừng hai
triệu người chết đói. Nhà tôi hàng ngày để dành cho
anh một bát cơm, đôi khi chính tay tôi đưa cho anh, nhưng
cũng không cứu nổi vì hình như anh còn phải chia cho vợ
con. Rồi không thấy anh đến nữa, có người nói anh đã
chết đói.
Trên đường đi học
đến trường tỉnh, chừng hơn hai cây số, người chết
nằm ngổn ngang, bụng ỏng, rốn lồi, từ hai lỗ mũi
chảy ra hai dòng mũi, một chất lỏng xanh lơ sền sệt,
ruồi nhặng bâu đầy, xác xông lên mùi hăng hăng, lợm
giọng. Những chiếc xe bò lọc cọc đi lượm xác chết.
Phải chứng kiến những cảnh ấy, ngày này qua ngày khác,
tuy đã cả tháng trời, nhưng cũng chẳng bao giờ quen mắt
được. Không cần phải đọc những áp-phích, truyền đơn
tuyên truyền đã bắt đầu xuất hiện, người ta cũng
thừa biết nguyên do: đáng lẽ trồng lúa, mùa màng phải
phá đi để trồng đay, trồng bông, còn lúa gạo dự trữ
dùng để nấu rượu làm nhiên liệu. Những đứa trẻ
nhạy cảm đi học mỗi buổi sáng, trước khi được học
chữ nghĩa ở nhà trường, đã phải tự học một bài
học đời sống nằm lòng, không bao giờ phai nhạt. Bé
dại, thơ ngây quá để có thể đọc bài học nên lời,
chúng cảm nhận bài học trong xương tủy. Đói quá, mất
cả nhân phẩm lẫn mạng sống; phải đánh đuổi cho kỳ
hết tất cả những bọn ngoại lai thối tha này, cao hay
lùn, da nhợt hay da vàng. Đó là việc làm độc nhất và
tất cả, không thể thỏa hiệp. Những chuyện khác, tính
sau!
Đài truyền hình quốc
gia Canada CBC, trước bản tin, có một dạo hay cho chiếu
cảnh một đứa bé Palestine ngồi cô độc trên một bực
thang, giữa đống gạch vụn; nhà nó vừa bị xe ủi đất
của Israel san bằng, có lẽ vì anh hay chị hay một người
họ hàng nhà nó là kẻ đánh bom. Người ta có thể đưa
ra một nghìn lý luận hay lý thuyết, bác học hay vụ lợi,
để giải thích một hành động, nhưng riêng đứa nhỏ,
nó chỉ có một chân lý: lòng căm thù – một gánh nặng
vô nhân đạo, không thể chịu đựng nổi đã được đem
chụp trên hai vai đứa trẻ 7, 8 tuổi. Nếu nó có được
một thày giáo Công, không chút vị kỷ, dạy nó tính cỗi
rễ bậc hai, có khi nó nhìn thấy được le lói một
lối thoát, dù khó khăn. Nhưng nó không có cái cơ duyên
ấy. Những ông đồ già, những thày giáo Công, những con
người xưa cũ của những thời xưa cũ, có đời sống
lương thiện, thanh tao đã qua đi từ lâu. Nhìn đôi mắt
nó, tôi nhìn thấy được cái định mệnh của nó; thêm
vài năm nữa, có thể sớm hơn, nó sẽ trở thành một kẻ
đánh bom nguy hiểm.
11/04

0 comments:
Post a Comment