Lê Hữu
Ảnh:
Nguyễn Na Sơn
“Đất
nước thống nhất rồi
mà
lòng người thì không thống nhất.”(Phạm
Duy)
Trong
số “ngàn lời ca” của Phạm Duy, bài hát nào được
mọi người yêu thích nhất?
Ngày
trước, có đôi lúc tôi vẫn tự hỏi như vậy. Sau ngày
nhạc sĩ Phạm Duy qua đời, tôi tìm ra câu trả lời. Khi
được hỏi “Thích bài nào nhất của Phạm Duy?”, hầu
hết những người yêu nhạc ông đều nhắc đến bài
“Tình ca”. Có người gọi bài hát ấy với tên khác là
“Tiếng nước tôi” hoặc “Tôi yêu tiếng nước tôi”,
câu hát đầu tiên của bài ấy.
Từ
“Tình ca” đến “Việt Nam, Việt Nam”
“Tôi
yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời”, câu hát ấy,
mười nốt nhạc đầu tiên của bài nhạc ấy, từng được
một cơ sở thương mại ở trong nước mua với giá 100
triệu (tính ra là 10 triệu cho một nốt nhạc), được
xem là mười
nốt nhạc Việt có giá thương mại cao nhất từ trước
đến nay.
Đã
từng có một đêm nhạc Phạm Duy tổ chức tại Huế
(16/9/2012) với tên gọi là “Phạm Duy – Tôi Yêu Tiếng
Nước Tôi”. Xa hơn nữa, một đêm nhạc Phạm Duy khác
được tổ chức tại Singapore (17/10/2010) cho cộng đồng
người Việt ở đấy cũng với tên gọi là “Tôi Yêu
Tiếng Nước Tôi”. Bài hát rất được yêu thích và gắn
liền với tên ông khiến ông được xem là người nhạc
sĩ viết về tình tự dân tộc, về tình yêu quê hương
hay nhất.
“Tình
ca” là bài hát mang nhiều “chất Phạm Duy” nhất.
“Tình ca” là một “tình yêu tổng hợp”, là bản
tình ca lớn nhất của Phạm Duy: bản tình ca của đất
nước. Với lớp người trẻ, bài hát ấy là bài học
lớn về lòng yêu nước, yêu tiếng Việt, yêu người
Việt, yêu lịch sử dân tộc Việt.
Bài
hát không dễ thuộc lời, thế nhưng mọi người đều
hát được câu hát đầu của bài hát ấy. Như thế cũng
đủ. “Nếu một trăm năm nữa,” tác giả bài hát nói,
“người ta vẫn hát bài ‘Tình ca’ với câu ‘Tôi yêu
tiếng nước tôi’, thì 999 bài còn lại người ta có
quên đi cũng được.” Câu nói ấy cho thấy không chỉ
người yêu nhạc Phạm Duy mà chính Phạm Duy cũng yêu bài
hát ấy hơn cả. Thậm chí, khi nói về cái chết, ông
cũng nhắc tên bài hát ấy, “Mộ tôi sẽ nằm trên môi
những người hát ‘Tình ca’. Cứ mỗi lần có ai hát
bài này, tôi tin là mình đang được tái sinh trong lòng
họ.”
Bài
hát được yêu thích nhưng không dễ hát và càng không dễ
hát chung với nhau. Muốn hát chung một bài nào của Phạm
Duy, người ta đi tìm một bài khác.
“Tình
ca” là bài hát đầu tiên trong số chín ca khúc đầu
tiên của Phạm Duy được Cục Nghệ thuật Biểu diễn
(thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) ở trong nước
cấp phép phổ biến sớm nhất (21/7/2005), hai tháng sau
ngày nhạc sĩ Phạm Duy chính thức hồi hương.
Tôi
nhớ, có lần nhạc sĩ Phạm Duy chia sẻ tin vui thêm một
đợt những ca khúc của ông được cấp phép phổ biến,
tôi nói rằng có một bài tôi thực sự mong cho ông, hơn
bất cứ bài nào khác, sẽ được phép lưu hành. “Bài
gì?” ông hỏi. Tôi nói, “Việt Nam, Việt Nam.” Ông
im lặng. Tôi nói thêm là tôi chờ cái ngày bài hát ấy
được hát vang vang khắp mọi miền đất nước, hát vang
vang trong màn kết thúc một chương trình nhạc Phạm Duy.
Ông im lặng. Tôi gửi ông nghe/xem cho vui ít màn trình diễn
bài hát ấy ở nước ngoài trước và sau ngày ông về
nước. Ông im lặng. Tôi hiểu được sự im lặng ấy, và
không nhắc tên bài hát ấy nữa.
Vì
sao bài hát ấy, bài “Việt Nam, Việt Nam”, vẫn chưa
được cấp phép? Có gì “lấn cấn” chăng?
Bài
hát có những lời lẽ khơi dậy lòng
nhân ái, tình
yêu thương đồng loại và
những giá trị phổ quát của các quyền làm người trong
một đất nước tự do dân chủ.
Việt
Nam đem vào sông núi
Tự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…
Tự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…
Việt
Nam ta nguyền tranh đấu cho đời
Tình Yêu đây là khí giới
Tình Thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…
Tình Yêu đây là khí giới
Tình Thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…
Những
lời lẽ ấy là không thích hợp chăng?
Bài
hát có nhịp điệu khỏe khoắn, tiết tấu mạnh mẽ,
nghe phấn chấn, thúc giục tựa những bước chân hăm hở
xốc tới, rất thích hợp để hát hợp ca, đồng ca trong
những cuộc họp mặt, xuống đường, tuần hành.
Nhạc
điệu ấy là không thích hợp chăng?
Bài
hát có nhạc điệu trang nghiêm, hùng tráng với lời ca
khơi dậy tinh thần yêu nước, mang tính cách của một
bài quốc ca. Nhiều người vẫn nhớ rằng “Việt Nam,
Việt Nam” từng hơn một lần được đề nghị làm bài
quốc ca Việt Nam Cộng Hòa (thay cho bài “Tiếng gọi công
dân” của Lưu Hữu Phước, một nhạc sĩ miền Bắc).
Bài hát “Việt Nam, Việt Nam” vì thế, rất “gần”
với bài quốc ca của miền Nam ngày trước.
Những
điểm ấy là “nhạy cảm” và là không thích hợp
chăng?
Liệu
còn có những lý do nào khác? Hoặc, chẳng có lý do nào
cả. Chưa duyệt, chưa cấp phép là vì chưa duyệt, chưa
cấp phép, thế thôi.
“Việt
Nam, Việt Nam” là một chung khúc (cách gọi của nhạc sĩ
Phạm Duy), là một kết thúc có hậu cho bản trường ca
“Mẹ Việt Nam” (1964) của Phạm Duy. Là chung khúc nhưng
“Việt Nam, Việt Nam” vẫn thường được trình diễn
như một bài hát riêng, độc lập. Chung khúc ấy thể
hiện những ước mơ, khát vọng của người dân Việt về
một vận hội mới về trên quê hương, cho đất nước
yên bình, cho không còn những cách chia, cho người biết
thương người.
Trả
lời câu hỏi “Vì sao cái tựa bài hát không là ‘Việt
Nam’ mà lại hai lần ‘Việt Nam, Việt Nam’?” tác giả
bài hát nói: “Vì nước Việt Nam mình bị chia làm hai,
thành ra có hai ‘Việt Nam – Việt Nam’. Nếu chỉ có
một Việt Nam thôi thì tốt hơn. Trong khi tôi xưng tụng
một nước Việt Nam như vậy, ‘Tình
yêu, đây là khí giới’,
thì hai bên vẫn còn nghi kỵ nhau, vẫn còn chưa bắt tay
nhau.”
Sau
ngày ông qua đời, một bài báo trong nước (Thanh
Niên,
30/1/2013) có đề tựa “Nhạc sĩ Phạm Duy: Tâm nguyện
cuối đời” phổ biến một lá thư của ông (không đề
ngày) gửi đến “giới chức có thẩm quyền” xin cấp
phép cho phổ biến ca khúc “Việt Nam, Việt Nam”. Thư có
đoạn:
“Tôi
nghĩ rằng tôi có quyền nuôi một nguyện vọng đóng góp
vào sinh hoạt âm nhạc trong nước bằng một ca khúc có
tính chất xưng tụng nước ta nhan đề ‘Việt Nam, Việt
Nam’ sáng tác từ 1960, rút trong trường ca ‘Mẹ
Việt Nam’, là một tổ khúc kêu gọi sự đoàn
kết dân tộc dưới bóng Mẹ Tổ Quốc thiêng liêng và độ
lượng. Sau đây là ca khúc đó… (lời ca bài ‘Việt
Nam, Việt Nam’). Tôi mong có ngày ca khúc này được phép
phổ biến.” (thư kèm một CD gồm hai bài hợp ca “Việt
Nam, Việt Nam”).
Một
lá thư khác, cũng theo bài báo ấy, dài đến mười trang
của Giáo sư Trần Văn Khê (6/2012), người bạn cố tri
của ông, nội dung đề nghị cấp phép phổ biến hai
trường ca của Phạm Duy là “Con đường cái quan” và
“Mẹ Việt Nam” (kết thúc bằng chung khúc “Việt Nam,
Việt Nam”). Thư
có đoạn:
“Tâm
nguyện của Phạm Duy đối với quê hương là một tâm
nguyện trọn vẹn… Tôi ước mong chính phủ, Bộ Văn Hóa
xem xét đến trường hợp hai tác phẩm trường ca của
Phạm Duy để giúp cho hai tác phẩm rất sâu sắc, nhân
văn này được phổ biến đến đại chúng toàn quốc,
giúp cho tư tưởng rất đẹp trong lời nhạc, lời ca đi
sâu vào lòng người dân… Với hai trường ca này, Duy đã
nói về một Việt Nam hoàn toàn chung nhất, vẽ nên một
bức tranh Việt Nam đầy đủ địa lý tới văn hóa, từ
chiều dài lịch sử đến bề sâu tâm hồn, từ tư tưởng
triết lý đến quan niệm nhân sinh... để thấy rằng Việt
Nam đẹp đến nhường nào, từ trong nội tại tâm hồn
đến cảnh vật bên ngoài, luôn lấp lánh cái bóng dáng
hòa bình, yêu thương, nhân ái, người vì người, sống
chết cho nhau.”
Cả
hai lá thư với lời lẽ thiết tha ấy đều “thư đi”
mà không có “tin lại”.
Mỗi
năm lại có thêm một vài đợt duyệt xét, có thêm một
ít ca khúc của Phạm Duy được cấp phép phổ biến (gồm
cả những bài một thời được xem là “dị ứng” với
nhà cầm quyền trong nước, như “Bên cầu biên giới”,
“Mùa thu chết,” “Tìm nhau”…). Không có bài “Việt
Nam, Việt Nam”. Đợt cấp phép mới nhất, mười ngày
trước khi người nhạc sĩ qua đời, có thêm tám ca khúc
Phạm Duy được cho phép lưu hành trên cả nước. Vẫn
không có bài “Việt Nam, Việt Nam”. Bài hát vẫn biệt
vô âm tín. Người nhạc sĩ vẫn tiếp tục chờ đợi,
chờ đợi trên giường bệnh. Nỗi đợi chờ trong câm
lặng, trong khắc khoải, mỏi mòn, như người ngồi đợi
hoài những giấc mơ không bao giờ đến.
“Việt
Nam, Việt Nam”, bài hát ấy hoặc được duyệt rất sớm,
hoặc rất muộn, hoặc chẳng bao giờ, vì không thích hợp,
vì khá “nhạy cảm”; hoặc hơn thế nữa, vì “dị
ứng”, như cách nói ở trong nước.
“Chung
khúc” nào cho Việt Nam – Việt Nam?
Ít
hôm sau ngày nhạc sĩ Phạm Duy mất, ở Mỹ người ta tổ
chức một đêm nhạc để tưởng nhớ ông. Một người
bạn ở Nam Cali gọi cho tôi, nói “Nếu ông ở đây thì
tối nay tôi rủ ông đi nghe nhạc, một chương trình nhạc
đặc biệt, chỉ phổ biến trong thân hữu.” “Nghe nhạc
Phạm Duy phải không?” tôi hỏi. Người bạn hỏi lại
“Sao biết?” Tôi nói, “Nhạc Phạm Duy thì người ta
vẫn hát, vẫn nghe từ bao nhiêu năm nay và vẫn đang hát,
đang nghe chứ đâu phải đợi cho đến lúc ông ấy nằm
xuống mới đi nghe.” Tôi không rõ những “thân hữu”
trong đêm nhạc ấy gồm những ai ai, và vì sao lại “chỉ
phổ biến trong thân hữu”. Theo lời người bạn kể,
một “tiết mục” khá ấn tượng trong đêm “Phạm
Duy, Ngàn Lời Ca” ấy: kết thúc chương trình, không ai
bảo ai tất cả mọi người đều cùng đứng lên và cùng
cất cao tiếng hát bài “Việt Nam, Việt Nam”. “Cảm
động nhất là màn cuối ấy,” người bạn nói.
Vì
sao lại “cảm động”? Phải chăng vì những cảm xúc
rưng rưng pha trộn: vì cảm thương cho con người nghệ sĩ
lắm tài hoa mà cũng nhiều nghiệt ngã, cho đến những
năm tháng cuối đời vẫn cứ nuôi mãi một “giấc
mộng dài”.
Hoặc vì cảm thương cho thân phận đất nước mình dân
tộc mình, cho những kiếp người nổi trôi, những số
phận lênh đênh không bờ không bến. Hoặc vì bài hát
gợi nhớ về những năm tháng xa xôi, những tháng năm
tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ và của những
ước mơ trong veo về một ngày hòa bình trên quê hương
đổi mới... Người nhạc sĩ già đã nhắm mắt xuôi tay,
“người tình già” đã đi về đầu non. “Việt Nam,
Việt Nam”, bài hát ấy, tiếng hát ấy, như một giấc
mơ rạn vỡ.
Một
trùng hợp ngẫu nhiên, ít hôm sau đó, vào những phút
cuối của đám táng người nhạc sĩ, trong lúc người
người đứng vây quanh huyệt mộ, trong lúc những nắm
đất, những bông hoa đủ màu sắc thả xuống nắp áo
quan, một tiếng nói cất lên, “Chúng ta hãy hát bài Việt
Nam, Việt Nam.” Rồi một giọng hát cất lên, “Việt
Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…”
Rồi những giọng hát khác cất lên, cất lên, hòa quyện
vào nhau. Những câu hát bật ra, bài hát bật ra, càng lúc
càng lớn. Những nắm đất, những cánh hoa vẫn liên tục
thả xuống... Người ta chọn bài hát ấy để nói lời
chia tay người nhạc sĩ.
Việt
Nam, hai câu nói bên vành nôi…
Việt
Nam, hai câu nói sau cùng khi lìa đời…
Tình
Yêu, đây là khí giới
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam, đây tiếng nói đi xây tình người
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam, đây tiếng nói đi xây tình người
Ở
ngoài nước, kết thúc đêm nhạc tưởng niệm người
nhạc sĩ, người ta cùng hát với nhau bài “Việt Nam,
Việt Nam”. Ở trong nước, kết thúc đám táng người
nhạc sĩ, người ta cùng hát với nhau bài “Việt Nam,
Việt Nam”.
Đoàn
người cất cao tiếng hát bài “Việt Nam, Việt Nam”
trong “nghĩa
trang mông mênh”
ấy là những ai? Nhiều phần là những người lớn tuổi,
những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975.
Những người trẻ tuổi, một số đã không hát theo được
vì không thuộc hay không biết bài hát ấy.
Một
bà cụ tóc trắng nêu thắc mắc, “Sao không in ra thành
nhiều bản phát ra cho mọi người để cùng hát với nhau
cho hùng mạnh hơn?!” (Bà cụ không rõ bài hát chưa được
“nhà nước”… cho phép hát).
Những
người khác quay sang hỏi nhau, “Tại sao một bài hát có
ý nghĩa như thế lại không được nhà nước cấp phép?”
Những
câu hỏi không có câu trả lời.
Khác
với tác giả bài hát, người ta không phải đợi “nhà
nước” duyệt hay cấp phép. Hàng ngàn người đồng hành
với ông trong ngày “Chủ Nhật buồn” ấy đã “duyệt”
cho ông bài hát ấy. Hoặc nói như cách nói ở trong nước,
“một bộ phận quần chúng nhân dân” đã cấp phép cho
bài hát ấy; hơn thế nữa, đã “biểu diễn” bài hát
ấy như một dàn đồng ca tự phát.
Bài
hát, lần đầu tiên được cất lên kể từ ngày ông về
nước. Phải đợi đến lúc hạ huyệt, đến lúc thân
xác ông được gửi vào lòng đất mẹ thì bài hát ấy
mới cất lên. Cũng đâu có gì là muộn màng, phải không?
“Có
còn hơn không, có còn hơn không”,
như câu hát trong một bài hát quen thuộc của ông. Bây
giờ thì ông không còn phải chờ đợi thêm nữa.
“Việt
Nam, Việt Nam” từng là một trong những bài hát cộng
đồng khá phổ biến trên môi tuổi trẻ, sinh viên, học
sinh ở miền Nam tự do một thời nào. Bài hát vang lên
trong những sân trường, lớp học, trong những đêm không
ngủ, trong những ngày lên đường, xuống đường rực
lửa đấu tranh. Mọi người vừa hát vừa vỗ tay rất
nhịp nhàng, rất khí thế, rất sôi nổi. Bài hát ấy,
nhiều năm sau lại vang lên bên huyệt mộ người nhạc sĩ
trong một ngày cuối đông. Người ta đã hát cho ông nghe
bài hát bao năm ông hằng chờ đợi, bài hát ông gửi vào
những tâm huyết, tâm nguyện, tâm tình. Ông còn mong gì
hơn nữa!
Hát
“Việt Nam, Việt Nam” là hát về những giấc mơ, những
khát vọng của người dân Việt tội tình. Giấc mơ “Việt
Nam, Việt Nam”, giấc mơ của Phạm Duy, giấc mơ của
tuổi trẻ ngày ấy, của tuổi trẻ hôm nay, của người
Việt khắp nơi khắp chốn, giấc mơ ấy vẫn còn… xa
vời vợi.
“Việt
Nam, Việt Nam”, sau năm mươi năm, bài hát vẫn còn là
giấc mơ.
“Việt
Nam, Việt Nam”, chung khúc ấy là viễn mơ.
Bài
chung khúc ông viết cho “Mẹ Việt Nam”, cho dân Việt
Nam và cho tâm nguyện của riêng ông cách nay nửa thế kỷ,
chung cục trở thành “bài hát tiễn đưa” ông về lòng
Đất Mẹ, như là những gì thuộc về ông nay chính thức
trả về ông, cho ông mang theo làm hành trang của “những
gì sẽ đem theo về cõi chết”.
Liệu
có một “chung khúc” nào cho người dân Việt? Câu trả
lời vẫn còn ở phía trước. Giáo sư Eric Henry (Đại Học
North Carolina, Chapel Hill, NC), giảng dạy về ngôn ngữ và
văn chương Việt Nam–người dành ra nhiều thời gian vào
việc khảo cứu về lịch sử tân nhạc Việt cũng như
chuyển dịch sang tiếng Anh bộ Hồi
Ký Phạm Duy–trong
một bài tham luận, tỏ ra lạc quan về những tín hiệu
cho thấy “hai phía Việt Nam – Việt Nam” ngày càng có
khuynh hướng “xích lại gần nhau” hơn: “Sự chuyển
hoá từ cả hai phía có vẻ chỉ là những thay đổi cỏn
con, ngẫu nhiên, và cá nhân, như thể những hạt cát
ngoài bờ biển, hoặc như những chiếc lá vàng mùa thu,
nhưng không còn hồ nghi gì nữa về những kết quả chung
cuộc. Khi nào cả hai phía cùng hoà giải với nhau thì họ
sẽ thấy Phạm Duy đón họ ở đấy, vì ông đã thấy
trước từ lâu rồi là sẽ có một ngày như thế.”
(*)
Nhạc
sĩ Phạm Duy, ngược lại, trong bài trả lời phỏng vấn
của đài RFA (23/6/2012), gọi là “Những bộc bạch cuối
đời”, đã không giấu nỗi chua xót của chính mình:
“Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi lớn
một tí đấy, nhưng mà riêng tôi, cho đến giờ phút này,
tôi thấy là tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước
đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống
nhất, thành thử nếu tôi có chết đi thì gần như là
tôi không có được thỏa mãn.” Trả lời câu hỏi “Tại
sao?” ông nói, “Giản dị lắm, anh muốn biết tại sao
như vậy thì anh phải hỏi thẳng chính quyền ấy.”
Ngày
ông nằm xuống, người Việt vẫn chưa đi đến một
“chung khúc”.
“Việt
Nam, Việt Nam”, bài hát ông viết ra từ thời chiến như
gửi đi một thông điệp của thương yêu và hòa giải,
của thống nhất đất nước và thống nhất lòng người.
Thông điệp ấy đến nay người ta vẫn chưa sẵn sàng
đón nhận.
Nếu
có “thống nhất” được điểm nào thì chỉ là “hai
phía” đều gọi ông là “cây đại thụ” của làng
nhạc Việt. Sau ngày cây đại thụ ấy bật gốc, cả hai
phía ấy và cả những người yêu ông và ghét ông, đều
nói rằng cả trăm năm nữa cũng khó mà có được một
tài năng âm nhạc nào như ông.
Người
ta vẫn hay gọi một văn nghệ sĩ tên tuổi là “tác
giả”, theo sau là tên tác phẩm phổ biến nhất, ý nghĩa
nhất và được yêu chuộng nhất. Cách gọi ấy gọi được
cả “tác giả và tác phẩm”.
Phạm
Duy, tôi chắc nhiều người sẽ gọi ông là “Tác giả
Việt Nam, Việt Nam”.
Lê
Hữu
(*)
Eric
Henry, (2005) “Phạm Duy and Modern Vietnamese History”,
Southeast Review of Asian Studies 27. Phố Tịnh dịch, “Phạm
Duy và lịch sử Việt Nam hiện đại”, talawas.org
22/11/2005
*
Những chữ in nghiêng
là những câu hát của Phạm Duy
Chung
khúc “Việt Nam, Việt Nam”, Phạm Duy
Ban
hợp xướng Ngàn Khơi (hòa âm Lê Văn Khoa, nhạc trưởng
Trần Chúc):

Gian di la Tầu muốn xoá tên VN