Giới thiệu

Bùi Ngọc Tấn - Một ngày dài đằng đẵng

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 2 năm 2013



Bùi Ngọc Tấn

Một ngày dài đằng đẵng chỉ là khái niệm dễ hiểu đối với những người bình thường để diễn đạt chiều dài của một ngày mà mình mong muốn nó qua đi. Nó chẳng là gì so với chiều dài một ngày của bọn người đặc biệt: Bọn tù. Bọn phạm. Thời gian trong tù là ngưng lại. Không gian cũng vậy. Hình như xà lim rất gần với điều các nhà bác học đã nói tới: Hố đen. Ở hố đen không có thời gian mà cũng chẳng có không gian.


Mỗi người tù dù tù lâu đến đâu, dù thời gian ở “hố đen” ngưng đọng, không tách bạch được từng ngày, từng tháng, từng năm, thời gian biến thành một dòng nham thạch nóng bỏng và nguội lại, sền sệt hay đông cứng trong trí nhớ, với họ vẫn có những ngày chói sáng, chẳng hạn như ngày bị bắt, một ngày hỏi cung đặc biệt nào đó, ngày lăn tay điểm chỉ, ngày đầu tiên nhận tiếp tế, gặp lại bố mẹ, vợ, con...

Với anh tù Vũ Mạnh Cường ngày chói sáng ấy là ngày anh ta được chuyển trại. Được chuyển từ trại tạm giam P đến một trại tạm giam N nào đó...

Buổi sáng hôm ấy cũng như mọi buổi sáng khác, Cường vừa đi làm vệ sinh về. Nghĩa là một tay cầm bô, một tay cầm ca, khăn mặt, bàn chải răng, đi sau một anh tù khác mang án tử hình, đang chờ lệnh ân xá hoặc mang đi xử bắn, xiềng xích loảng xoảng, dưới sự áp tải của một ông quản giáo trẻ mặt đầy trứng cá, nom rất hiền lành và chất phác, đến khu nhà xí để đổ bô rồi vòng ra một bể nước rất to cạnh đấy tráng bô và đánh răng rửa mặt. Xong xuôi trở về xà lim. Ông quản giáo đóng cửa sắt, khoá cửa sắt phía trong, đóng cửa sắt, khoá cửa sắt phía ngoài. Lặng lẽ vắt khăn mặt ướt lên thanh lập là sắt nắp cùm ở phía chân giường. Lặng lẽ nhấc cái nắp bô lên, đặt cái nắp bô xuống. Lặng lẽ giở cái màn đã gấp ra gấp lại. Lặng lẽ đưa cái điếu tự tạo lên mồm hít hít suông vài hơi. Lặng lẽ ngồi xổm nhìn manh chiếu thẫm đen mồ hôi những anh tù trước. Lặng lẽ ngắm mười ngón tay, mười ngón chân xem có cái nào móng đã dài không để nhấm. Lặng lẽ nhổ phựt những cái lông mũi chĩa ra tới gần mồm...

Thì lại có tiếng mở khoá cửa. Tiếng mở khoá trái lệ thường. Lẽ ra phải hơn mười giờ gì đấy mới mở cửa. Để ra nhận bô cơm, bô nước. Bây giờ mới tám giờ chứ mấy... Cường giật mình ngồi ra mép sàn, thõng hai chân xuống dưới. Và đứng lên khi cửa mở, khi ông công an áo vàng(1) hiện ra ở phía ngoài khuôn cửa. Cường hơi ngạc nhiên. Chẳng lẽ lại đi cung. Bản cung của Cường đã hoàn tất từ lâu. Và đã bẵng đi hai tháng rồi Cường không bị gọi đi cung nữa.

- Đem hết nội vụ ra!

Không đợi nhắc lại mệnh lệnh lần thứ hai, Cường quay vào nhanh nhẹn lặng lẽ vơ đống chăn màn nhét vào bị cói. Cái ca tráng men, cái khăn mặt. Cái quần đùi còn ẩm. Điếu thuốc lào tự tạo làm bằng mấy cái vỏ diêm, nõ điếu là cái đầu cứng của tuýp thuốc đánh răng, thân điếu được bồi bằng những tờ giấy bạc ở vỏ bao thuốc lá, sáng loáng. Lại lật chiếu lấy chiếc quần dài đã xé gần cụt một bên ống làm thứ đi vệ sinh. Rồi bao diêm dùng dở, gói thuốc lào...

 Cường im lặng thu dọn rất nhanh. Tất cả chưa đầy một phút. Vì ông quản giáo đang đứng đợi. Theo ông đi. Những lối đi quanh co, vắng vẻ. Những dãy xà lim cửa đóng im ỉm, bí mật, hăm doạ. Những buồng giam chung rộng, dóng sắt thay tường, chứa đầy người với bao cặp mắt tò mò nhìn ra. Không cưỡng được, Cường liếc mắt nhìn vào đám người đông đảo ấy. Đã lâu lắm Cường mới thấy đông người đến thế. Họ thật hạnh phúc. Được giam chung. Được sống chung. Được trò chuyện cùng nhau. Chỉ dám liếc thôi. Không dám quay hẳn đầu về phía ấy. Vì Cường biết ở trong này, một cái nhìn cũng được quản lý chặt chẽ, một cái nhìn thôi cũng có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Cường đã bước vào khu làm việc của cán bộ. Một thế giới hoàn toàn khác. Những ông công an. Những bà công an. Những tiếng nói cười vui vẻ. Những cái vẫy tay. Những nụ cười. Những phòng làm việc cửa sổ mở và những chiếc xe đạp dựng sát tường. Thế giới của tự do! Thật đúng là thiên đường trên mặt đất này. Mà nó chỉ cách khu giam Cường có mấy bước chân thôi.

Ông quản giáo dừng lại trước một cửa buồng làm việc, bảo Cường:
- Đứng đây.

Rồi đi vào trong buồng. Trong ấy cũng có những người mặc sắc phục màu vàng đang nói cười ầm ĩ. Cường không dám nhìn vào đó. 

Có thể mình được ra gặp mặt. Nhưng Cường gạt ngay ý nghĩ ấy. Gặp mặt làm sao phải mang hết nội vụ ra? Ôi! Nếu mà được ra gặp mặt! Được nhìn thấy vợ con! Từ ngày bị bắt đến giờ Cường chỉ được nhận tiếp tế thôi. Chưa được gặp mặt lần nào. Chưa được gặp mặt, nhìn thấy vợ con và cũng để vợ con nhìn thấy mình lấy một lần.

Đặt bị nội vụ xuống chân, Cường ngước nhìn trời. Đã lâu lắm mới được nhìn trời. Trời vẫn rộng như thế, cao như thế, xanh như thế. Bầu trời đầu hè, những tảng mây trắng bay. Nhìn trời Cường nhớ là đã sang tháng tư ta, tức tháng năm dương rồi. Khái niệm thời gian, năm, tháng, mùa lại đến với Cường. Đời đẹp lắm. Lại nhói đau một nỗi tiếc đời...

Đang ngước nhìn trời suy nghĩ vẩn vơ thì có tiếng quát:
- Đi!

Cường giật mình. Một ông cán bộ mặc sắc phục đã đứng ở bên. Không phải ông quản giáo đóng mở xà lim. Một ông công an lạ mặt, áo quần là thẳng nếp. Mặt ông lẽ ra đẹp, nhưng cái cằm hơi dài chễu ra đã làm hỏng tất cả. Bù lại, toàn thân ông toát ra một dáng khoẻ mạnh, rạng rỡ niềm vui, hàm răng trắng rất đều lấp lánh. Sau tiếng quát nghiêm khắc vẫn là nụ cười không nén được, có lẽ là tiếp tục nụ cười dở dang quanh bàn trà trong phòng làm việc.

Cường ngoan ngoãn đi theo ông, không nói một lời. Theo ông đi về phía cổng sắt trại giam, cái cổng sắt vừa cao, vừa dầy, vừa nặng, lúc nào cũng đóng im ỉm. Cái cổng sắt mà khi mới bị bắt, bước qua nó để vào trại giam, Cường đã nghĩ: Bao giờ được bước qua nó để ra tù. Thì bây giờ Cường đang đi về phía nó. Cánh cửa sắt từ từ mở. Cường sẽ bước qua. ở đó là đường phố. Là người đi bộ, người đi xe đạp. Là cuộc sống. Ông công an nói với Cường:
- Về nhà! Anh được tự do!

Cường cúi chào, cảm ơn ông. Và không còn phải giữ ý gì nữa, vẫy ngay chiếc xích lô gần nhất. Anh xích lô lượn quành lại.

- Số 79 Trần Hưng Đạo.

- Anh cho năm đồng.

- Giả hẳn sáu đồng. Đi nhanh.

Vừa đi về phía cổng Cường vừa nghĩ ra cảnh ấy. Cánh cổng sắt mở ra thật. Cánh cổng mở nặng nề, không một tiếng kêu. Cường theo ông công an bước ra ngoài. Gió ập vào Cường. Đường phố, khoảng trống ập vào Cường. Choáng váng.

Cường vẫn bước theo ông công an như một cái máy câm lặng. Qua vỉa hè tới một chiếc xe com măng ca đít vuông đậu sát hè (đến lúc ấy Cường mới nhận thấy có nó). Một ông công an chắc là lái xe mở cửa ca bin nhẩy xuống vừa cười vừa hỏi ông công an cằm chễu:
- Sao lâu thế? Chờ mãi sốt cả ruột. Tám rưỡi rồi đây này. Muộn mất.

- Muộn gì. Trời mùa hè. Còn lâu mới tối. Yên trí. Đủ thì giờ cho ông mà.

Những câu nói của hai ông công an làm Cường bàng hoàng. Như vậy là Cường sẽ đi rất xa. Một ngày trời xe chạy mà vẫn còn lo trời tối. Lại càng bàng hoàng khi liếc nhanh thấy trong ca bin, chỗ hai cái ghế, khoác hai khẩu súng nòng dài. Như vậy không phải chỉ đi rất xa mà Cường còn là một phần tử cực kỳ nguy hiểm. Giải một thằng tù mà ngoài súng lục trễ hông, còn mang theo hai khẩu súng trường. Một cái gì trống rỗng trong người. Còn hơn cả sự vong mạng và tuyệt vọng.

Làm thân một anh tù, Cường luôn xác định những điều khốn nạn nhất sẽ đến với mình. Thế mà Cường vẫn bị bất ngờ, vẫn ngạc nhiên và tuyệt vọng. Ngạc nhiên, tuyệt vọng về chuyện bị giải đi, mà chẳng biết là đi đâu, chỉ chắc chắn rằng đi xa lắm, một ngày đường xe chạy. Ngạc nhiên về cái còng số 8 bập ngay vào cổ tay Cường. Ngạc nhiên khi ông công an mở cửa phía sau đẩy Cường lên xe, Cường xuýt đập mặt vào tấm vách sắt dựng đứng ngay trước mặt. Cánh cửa xe sập lại. Tiếng khoá cửa. Tối sầm. Còn đang đưa hai tay bị còng ra sờ soạng thì xe đã chạy. Cường ngã đổ về phía sau. Vội dạng chân, đưa vai đỡ. Lúc ấy mới biết bốn chung quanh là tường sắt. Hẹp. Rất hẹp. Và có một cái gì như chiếc ghế sắt vuông, cũng được hàn chặt vào sàn xe. Đúng rồi, cái ghế.

Xe vẫn lăn bánh dòn tan, bắt đầu giữ một tốc độ ổn định. Trong thế đứng tấn, Cường không bị xô giật nữa. Và Cường dần quen với thứ ánh sáng chung quanh mình. Hóa ra cũng không đến nỗi tối lắm. Cũng như trong xà lim thôi. Nhờ nhờ một thứ ánh sáng góc tối gầm giường kê ở xó nhà. Cường cũng đã định vị được cái ô nhốt Cường. Thì ra cái xe nhốt Cường bề ngoài hoàn toàn như mọi cái xe Ru ma ni đít vuông nhưng bên trong khác hẳn. Thùng xe đã được cải tiến, ngăn thành bốn xà lim sắt. Bốn xà lim lưu động. Xà lim nhốt Cường ở phía sau, phía đuôi xe, bên trái. Thứ ánh sáng nhờ nhờ lọt được vào thùng sắt này là do cửa sắt phía sau có khoét một ô nhỏ thông hơi. Cái ô vuông nhỏ ấy lại sát liền ngay tấm vải bạt phủ bên ngoài có một miếng mi ca làm kính hậu to hơn quyển vở học trò. Thật vẫn may mắn vì còn tấm mi ca ấy, lỗ thông hơi ấy để nhìn ra.

Với bản năng sinh tồn, Cường nghĩ: Phải xem xe đi về lối nào. Để biết mình đi về hướng nào. Thái Nguyên? Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang...? Tới chốn rừng thiêng nào? Cường thắt ruột nghĩ tới những tháng năm mịt mờ trước mặt.

Cường không rời khỏi cái ô vuông bé xíu trong xà lim lưu động nữa. Không thể để mình bị mất phương hướng. Cái quan trọng nhất bây giờ là phương hướng. Dù phải cúi mình lom khom, trán đập vào thành sắt mỗi khi có ổ gà bên dưới. Cứ như cái phương hướng ấy là vô cùng quan trọng, nó quyết định cả cuộc đời Cường.

Nhưng cố gắng đến mấy Cường cũng không nhận ra xe đang đưa mình về đâu. Thành phố Cường đã sinh ra và lớn lên, đã đi học từ lớp vỡ lòng đến hết phổ thông, thuộc mọi ngóc ngách mà nay không biết là đâu nữa. Chỉ thấy những đường phố, những vỉa hè lùi lại phía sau. Những người gồng gánh, những người đi bộ lùi lại phía sau. Những người đi xe đạp lùi lại phía sau. Cường chỉ biết rằng xe đang đi ra ngoại thành, vì đường phố đã nhếch nhác, thưa thớt đi nhiều.

... Rồi Cường reo lên khe khẽ. Trong hoàn cảnh như vậy mà vẫn reo lên thì lạ thật, nhưng đúng là Cường đã reo lên. Cường đã reo lên khi trông thấy một bức tường xây vuông vức trên một gò đất cạnh đường quốc lộ. Đúng lúc chồn chân, máu tụ lại, lưng đau nhừ vì phải cúi lom khom, Cường đã định rời lỗ thông hơi, ngồi xuống chiếc ghế sắt vuông mà lúc này Cường nom thấy khá rõ, bụng nghĩ: Định hướng mà làm gì, đến đâu cũng vậy thôi, việc đó có nghĩa gì, đến nơi nào chẳng thế, đến nơi nào mình chẳng là một thằng tù, đúng lúc ấy Cường nhìn thấy bức tường xây. Một bức tường do ngành thông tin quản lý, vẽ một bức tranh cổ động lớn: Một chị xã viên tươi cười đứng cạnh hai con lợn béo ị, vai vác lượm lúa vàng, phía sau là cánh đồng ngô khoai mơn mởn và những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi. Những dòng chữ chạy dài bên dưới: Vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và thống nhất Tổ Quốc nhân dân tỉnh H quyết đạt và vượt mục tiêu 2 con lợn 5 tấn thóc một héc ta gieo trồng. Đó mới là điều quan trọng nhất. Nó nói với Cường hướng mình đi tới. Vậy là xe đang đi vào địa phận tỉnh H. Ngồi xuống được rồi. Đã xác định được hướng đi. Ngối xuống được rồi. Chỉ đến khi ngồi xuống ghế Cường mới thấy hết cái ê ẩm đau nhức suốt từ gót lên đầu. Đường về H. Cường vẫn đi. Không có chuyện vào Nghệ An, Thanh Hóa được nữa. Chỉ có một hướng: Ngược lên phía Bắc. Cường tính trước những ngã ba, những lối rẽ để sẵn sàng biết được hướng đi tiếp theo khi xe lượn rẽ. Bây giờ hãy ngồi nghỉ đã.

Nhưng chính vào lúc Cường vừa ngồi xuống ghế thì xe dừng lại. Cường vội bật dậy, nhòm qua lỗ thông hơi. Xe dừng thật rồi. Cây cối đứng yên. Cánh đồng đứng yên. Mà không có phố xá hàng quán. Hay họ cho mình xuống đây? Trong lúc rối tinh đầu óc, Cường đã nghĩ như vậy. Cường chờ ông công an đến mở khoá. Hoặc cái bóng ông ấy đảo qua phía sau xe, trông thấy ông ấy đi đi lại lại bên ngoài tấm kính mi ca. Nhưng không. Vậy dừng lại làm gì nhỉ? Hay xe hỏng. Xe vẫn đang chạy bình thường rồi từ từ dừng chứ có sao đâu. Cường áp tai vào thành sắt, lắng nghe. Im lặng như tờ. Tịnh không có một tiếng động chứng tỏ người ta đang vặn tháo một bộ phận nào đó.

Vậy họ dừng lại để làm gì nhỉ. Cường nghe rõ tiếng thở hổn hển lo lắng của mình trong hộp sắt. Và cay đắng tự nhủ: Cũng liều nhắm mắt đưa chân. Ngắm nhìn con đường nhựa dài hun hút một lúc rồi lại vào ghế ngồi. Và cũng như những lúc trong xà lim, hết nghĩ đến mình, Cường nghĩ đến vợ. Hẳn vợ Cường chưa biết Cường chuyển đi. Kỳ tiếp tế sắp tới có đến chỉ được câu trả lời “anh ấy chuyển đi rồi”. Vợ Cường sẽ choáng váng hơn Cường bây giờ. Vợ Cường sẽ hỏi: “Báo cáo anh, nhà tôi chuyển đi trại nào cơ ạ?” “Chúng tôi cũng chưa biết”. Thế là lại khóc lóc mang mọi thứ về nhà. Lúc chưa chuyển đi còn gần gặn. Giờ đây xa cách thế này...
Hết nghĩ đến vợ, lại nghĩ đến bố mẹ, tới anh em, bè bạn, nghĩa là những điều mà người tù nào cũng nghĩ ngợi, cũng lo lắng. Nắng đã gắt. Ngồi trong thùng xe ngột ngạt, nóng bức, với hai tay bị còng, Cường lục nội vụ, lấy cái quạt giấy ra quạt. Do bị còng, Cường chỉ có thể quạt theo một kiểu: Để hai tay lên đùi, đập đập quạt vào bụng. Và bây giờ Cường lại chuyển sang một ý nghĩ khác: Các ông ấy đỗ ở đây làm gì lâu thế! Đường còn dài lắm. Các ông ấy lo trời tối. Thế này phải đi đến đêm mất.

Có lẽ phải đến một tiếng đồng hồ (Cường đoán như vậy, mà sự đoán của Cường thì không chính xác lắm). Ngột ngạt, nóng bức, lo lắng, ê ẩm và sự mong đợi đã quá giới hạn, đến mức Cường tự nhủ: Xe còn đỗ ở đây lâu, cố mà ngủ đi một tí, đêm qua mất ngủ gần suốt đêm rồi. Hình như Cường đã chập chờn thì xe chạy.
Xe đi. Đúng như mong đợi. Mệt mỏi rã rời, Cường dựa đầu vào sát vách, lim dim, cố tìm lấy một chút thư giãn. Thôi, bây giờ là đi. Đi đến một nơi không biết nơi nào. Chỉ biết là chẳng dễ chịu gì. Thì cũng cứ đến đi. Đến ngay đi. Để được ổn định cuộc sống thằng tù. Thật ra lúc mới lên xe, bên cạnh cái lo lắng vì bị chuyển đi và không biết đi đâu, còn là sự kích thích vì được ngồi trên xe ô tô, được nghe tiếng máy, tiếng bánh xe lăn, được nhìn đời, nó khác với chuỗi ngày tẻ ngắt đơn điệu ở xà lim. Nhưng bây giờ Cường lại nôn nóng mong chóng tới nơi và không có ao ước gì hơn là xe cứ chạy như thế này để đưa mình tới một chốn nào đó của số phận.

Nhưng xe chỉ chạy được một lúc thì dừng lại. 

Cường lại giật mình nhỏm dậy, nhòm qua lỗ thông hơi. Vẫn chỉ là cánh đồng, vẫn chỉ là con đường nhựa thẫm đen dưới ánh nắng đầu hè. Những cây cổ thụ ven đường, những bụi ruối cụt. Xa xa là những dãy núi im lặng, thách thức và đe doạ. Lại áp tai vào sát vách sắt, nghe ngóng. Lần này Cường nghe thấy tiếng sập cửa ca bin. Và tiếng gì như tiếng khoá. Rồi lại tịnh không một tiếng động. Như chiếc xe bị bỏ quên, như Cường bị bỏ quên từ bao giờ rồi. Vì sao thế nhỉ? Vì sao chốc chốc lại dừng như vậy? Hẳn có một chuyện gì đặc biệt đây, một chuyện gì nghiêm trọng đây. Nhưng là chuyện gì. Cường không hiểu. Để gạt đi những ý nghĩ dày vò mình, Cường tập trung vào một trò chơi mới: Quan sát qua lỗ thông hơi xem có bao nhiêu người qua lại. Nhiều. Cả ô tô. Cả xe xích. Người thì nhiều. Có cả mấy đứa bé con và một tốp nông dân gánh những thúng cà pháo, những sảo đỗ đũa trĩu nặng. 

Máu lại tụ ở chân. Lưng lại đau vì phải cúi lom khom. Lại phải ra ghế ngồi. Nếu thời gian trong xà lim bê tông là thiên thu, là vô tận thì thời gian ngồi trong xà lim lưu động trên xe là một cái gì còn khủng khiếp hơn. Hoàn toàn ngưng lại, thời gian là một khối nặng như chì. Thời gian phá tung đầu óc. Biết bao ý nghĩ rối bời đến mức không còn là một ý nghĩ gì cụ thể nữa. Mồ hôi chảy thành dòng trên trán, trong người, dù cái quạt giấy đập đập liên tục. Cường đâm nhớ cái xà lim Cường đã sống hơn một năm và nghĩ rằng giá cứ được sống ở đó. Đến bây giờ Cường mới hiểu được rằng sống ở xà lim thật tuyệt vời. Rộng rãi mát mẻ và có thể nói là tự do nữa. Sáng ra đổ bô, vệ sinh cá nhân. Xong về nằm trong xà lim. Chờ bữa cơm sáng. Chờ bữa cơm chiều. Chờ trời tối. Rồi lại tới sáng hôm sau. Còn ở xà lim là cuộc đời tù đầy còn được ổn định. Rồi sẽ được gặp mặt. Rồi sẽ lĩnh một cái án hay được tha bổng như Cường hằng mong. 

Đi như thế này là lại bắt đầu từ đầu. Kể như mới bị bắt từ hôm nay. 

Mãi rồi xe cũng chạy. Cường thấy một cái gì như sự phấn chấn và tự nhủ: Xe chạy hay dừng là quyền của các ông công an. Kiểu gì mình cũng chấp nhận. Thôi. Không nghĩ nữa. Cường thấy khát, thấy đói. May mà mồ hôi ra nhiều, Cường không buồn đi tiểu. Trong này chẳng có cái bô nào. Còn chuyện đi ngoài Cường không lo. Cường mới đi sáng nay. Cường đã luyện được thói quen đi ngoài buổi sáng sớm. ỉa xong một lúc là được đi đổ bô, đi đánh răng rửa mặt. Chứ làm cái khoản ấy sau lúc đi đổ bô, đi làm vệ sinh cá nhân về thì rất gay. Phân ở trong bô cả ngày cả đêm. Lại phải tiểu vào đấy. Xà lim vừa hẹp vừa kín. Mùi phân, mùi nước giải ngầu lên, sục lên hôi thối, đượm vào người, vào quần áo chăn màn, vào tường xi măng, khổ vô cùng.

Xe lại chạy. Rồi xe lại dừng. Đã chán với việc xe chạy, xe dừng, Cường không nhìn ra ngoài lỗ thông hơi và cũng chẳng áp tai vào vách sắt nghe ngóng nữa. Bỗng có tiếng mở khóa. Tiếng mở khoá ngay cửa xà lim. Ông công an cằm dài xuất hiện trước cánh cửa sắt mở rộng: 
- Ra!

Cường vội vàng lấy hai tay xách bị nội vụ bước ra thì lại nghe thấy tiếng nói:
- Để nội vụ lại!

Vậy là chưa đến nơi Cường phải đến. Cường xuống xe. Hai tay bị còng nên xuống hơi khó một chút. Phải chụm hai chân nhảy như con căng gu ru.

Nắng. Đứng bóng. Nắng gắt. Lại một lần nữa Cường choáng váng. Choáng váng trước khoảng không ngập nắng. Cường nheo mắt lại trước ánh nắng chói chang, trước làn gió mát rượi ào ạt, tới tấp. Cuộc sống được Cường cảm nhận bằng tất cả giác quan, da thịt. Ông công an cầm sẵn chiếc chìa khoá, ra hiệu và mở khoá còng. Được duỗi thẳng hai tay thật dễ chịu, Cường khẽ vung vẩy hai tay và đến lúc ấy mới để ý thấy một dẫy quán ven đường.

- Vào ăn trưa.
Cường ngoan ngoãn theo ông công an cằm dài vào một hàng cơm.

Sau khi bước sâu mãi vào phía trong đi tiểu và vục hai tay vào một chậu nước mát lạnh rửa mặt mũi tỉnh táo cả người, khi trở ra Cường đã thấy một đám trẻ con tò mò bu lại ngoài cửa hàng nhìn Cường. Ông công an lái xe cũng đã bước vào tay xách bốn con chim gáy đã chết, đầu thõng xuống lủng lẳng. Vẻ mặt mệt mỏi, nhưng tươi rói và phấn chấn, ông đưa chùm chim cho chủ quán:
- Làm ngay. Quay nhé. Cho bia. Khát quá. Lấy một suất cho anh này ăn trước đi.

Hình như khách và chủ quán quen nhau. Hình như các ông công an áp tải phạm vẫn nghỉ ở đây. Hình như họ biết Cường là loại người nào.

Cường ăn. Ở bàn trong. Cách xa hai ông công an ở bàn ngoài. Ăn chậm. Ngon. Được ăn một bữa như thế này nhớ đời. Thịt ba chỉ xào măng. Rau muống luộc. Nước mắm chanh ớt. Thật mê ly. Biết hai ông công an còn ngồi lâu, Cường chẳng vội gì ăn nhanh. Cứ nhẩn nha. Không chỉ được ăn ngon, ăn no, còn được ngửi mùi thịt chim thui, mùi xào nấu ngay cạnh bếp. Đấy mới tuyệt vời. Ăn xong Cường lại được ông chủ quán mang cho mấy điếu thuốc và một ấm trà. Hẳn do các ông công an bảo. Thật là những người tốt bụng, thương người. Ôi những giờ phút nghỉ ngơi thú vị không ngờ đến này. 

Cường vừa nhâm nhi trà thuốc vừa lắng nghe câu chuyện giữa hai ông công an với chủ quán ở bàn ngoài. Họ nói về chim. Về những chỗ có nhiều chim từ thành phố lên đây. Về những khẩu súng Tiệp, súng Đức năm cân, bẩy cân do em các ông du học bên ấy gửi về. Về những con chim bắn trượt nào đấy. Về tài bắn và cuộc đi săn thú vị của họ.

Cường hiểu. Đến bây giờ Cương hiểu tại sao thỉnh thoảng xe lại dừng và dừng lâu như thế. Đang mùa chim làm tổ, đang mùa chim ghép đôi... Cường như nghe thấy tiếng gù nức lên của những con chim gáy, cổ óng ánh hạt cườm trên những cánh đồng mầu, tiếng hót líu lo của chim chích choè buổi sáng, những con chim sâu chuyền từ cành nọ sang cành kia không một tiếng động và đàn chim ri bay vù từ sân tung lên mái nhà.

Bởi vậy nên buổi chiều hôm ấy xe còn dừng lại hai lần nữa nhưng Cường không ngạc nhiên, không sốt ruột, không lo lắng sợ hãi. Cường biết các ông ấy đang làm gì. Hai khẩu súng của hai ông hoá ra không phải hai khẩu súng trường áp tải Cường mà là hai khẩu súng hơi.

Chiều tà xe mới đưa Cường đến trại mới. Trại N. Nhìn nó Cường biết quãng đường đi suốt một ngày hôm nay chỉ vỏn vẻn có ba mươi ki lô mét.

Câu chuyện trên tôi được nghe Cường kể khi tôi cùng tù với anh ở trại P.L năm 1973. Cường không nói cho tôi biết anh mắc tội gì cũng như tôi không nói cho Cường biết tội của tôi. Dù hai chúng tôi cùng chung một toán, nằm bên nhau và khá thân nhau, có kiếm được mẩu sắn cũng chia đôi. Trong tù chúng tôi không tin ai, không tâm sự với ai ngoài chính bản thân mình. Thật kinh khủng đấy nhưng như thế an toàn hơn. "Bụng cứ liền rốn". Đó là châm ngôn sống của chúng tôi.

Cường chỉ nói:
- Khi xuống xe chờ mở cổng trại, tôi nhìn vào ca bin. Anh biết không? Một đống chim vất đầy dưới chân ghế. Cả chào mào, cả cu gáy, cả chĩnh chuông, cả chim ri, chích bập, chim khuyên, liếu điếu... Phải đến mấy trăm con.

Và cười:
- Chính thức là hôm ấy bị một mẻ hoảng thật sự!

Rồi lại trầm trồ:
- Công nhận hai ông thiện xạ! Công nhận hai ông máu mê săn bắn nhà nghề!

Tháng 4/1995

(1)Thời ấy tất cả công an đều mặc sắc phục mầu vàng

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu