Giới thiệu

Võ Phiến - Chúng Ta Qua Tiếng Nói

Chủ Nhật, ngày 30 tháng 12 năm 2012



Võ Phiến

(Tiếp theo và hết)

Lối nói của cảm quan

Nghiên cứu về cú pháp Việt Nam, ông Lê Văn Lý có đưa ra hai tỉ dụ để chứng minh một qui tắc.

Các tỉ dụ là: “Cậu Hai đi dạo ngoài bờ sông câu cá trượt chân ngã xuống nước chết đuối” và “Khi nói xong, ông đứng dậy, từ giã mọi người rồi ra về”. Qui tắc được gọi là “qui tắc liên tục”, định nghĩa như sau: “Các tự ngữ trong câu nói được diễn ra theo thứ tự các sự kiện đã xảy ra trong thời gian: cái gì xảy ra trước được nói ra trước, cái gì xảy ra sau được diễn ra sau” (10).


Cùng một nhận xét ấy, hình như một nhà ngữ học khác đã so sánh câu Việt ngữ “Nó đi săn về” với câu Pháp ngữ “Il revient de la chasse”. Sự so sánh khiến một tỉ dụ rất ngắn làm nổi bật ngay cái đặc điểm của cú pháp Việt.

Trong câu, ý “về” mới là cái ý quan trọng, chủ yếu; còn ý “săn” chỉ là phụ. Người Pháp diễn ý “về” trước ý “săn” sau; câu nói của họ được kết cấu để bày tỏ rõ ràng cái tương quan chính phụ.

Chúng ta không quan tâm đến điều ấy. Đối với chúng ta, cái gì trông thấy trước, nghe thấy trước, được giác quan ghi nhận trước thì diễn tả trước, cái gì ghi nhận sau thì diễn tả sau.

Lại thử nhặt một câu nói thông thường của Anh Mỹ: “Where is the tailor who came from Los Angeles this morning?” Diễn ý ấy, người Việt Nam sẽ bảo: “Cái ông thợ may từ Los Angeles tới đây hồi sáng bây giờ ở đâu rồi?” Trong câu hỏi tiếng Anh ý chính là ở đâu được nêu ra trước tiên. Trong câu tiếng Việt thì mọi việc xếp theo thứ tự: ở Los Angeles (trước), rồi tới đây (sau), đâu rồi (sau chót).

Một bên các yếu tố trong câu nói được sắp xếp theo quan hệ luận lý, một bên liệt kê sự việc theo thứ tự thời gian cảm nhận. Một bên sắp xếp theo lý trí, một bên theo cảm thức.

Chúng ta không lý luận; chúng ta căn cứ trên các giác quan. Và điều đó là một điều rất quan trọng, bởi vì nhận xét chung về cú pháp Việt Nam trong một cố gắng hệ thống hóa, ông Lê Văn Lý chỉ rút ra có bốn qui tắc: liên tục là một.

Qui tắc quan trọng ấy lại xác nhận điểm sở trường của chúng ta đối với cái cụ thể, tức cảm quan. Chúng ta tránh cái trừu tượng, tức luận lý.

Người Pháp nói năng hợp lý, ta thấy đâu nói đó: cái sở trường của ta có phải là một cái yếu, cái kém chăng? Phải có một trình độ trí thức nào đó mới kết cấu câu nói theo luận lý được; e ta chưa đạt tới trình độ ấy chăng?

Người Pháp với địa vị kẻ cả của họ trong một thời vẫn còn làm chúng ta khó chịu, bứt rứt. Sự thực, lối nói của mỗi dân tộc không ăn thua gì đến chuyện trình độ. Trong trường hợp này, người Pháp nói giống hệt một số sắc dân thiểu số ở ta.

Thật vậy, đồng bào Bahnar nói “Nó về từ săn” (Hi uih đỡng loa); đồng bào Hré nói “Nó về từ chăn trâu” (Hãq hlài ĩnh ngen capè); đồng bào Chru nói “Nó về từ kiếm củi” (Nhũ wõ mơng duah iuh) v.v.

Như thế sự thiết tha với cảm quan không hề là một vấn đề trình độ. Và nhân dịp này chúng ta nhận thấy ngay trên địa bàn của nước Việt Nam này cũng không có được mấy sắc dân thiết tha với cảm quan như chúng ta đâu, xét về tiếng nói.

Qui tắc liên tục là một qui tắc quá quan trọng, có lẽ rồi ảnh hưởng của Pháp ngữ, Anh ngữ v.v. khó lòng truất bỏ nổi nó. Nhưng một số đặc điểm khác của Việt ngữ đang bị ảnh hưởng ngoại lai đe dọa. Chẳng hạn các thể từ theo lối Tây đang đe dọa các trạng từ của ta.

Các ông Phan Khôi (trong Việt ngữ nghiên cứu), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (trong Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam) đều nhận thấy người Pháp thích dùng thể từ (nom, susbtantif) trong những trường hợp mà ta vẫn dùng trạng từ (verbe, adjectif).

Hai ông Trương và Nguyễn đưa ra mấy tỉ dụ:
Pháp                         Việt
Le sifflement du vent. Tiếng gió thổi.
Le chant des oiseaux. Tiếng chim hót.
Sa sensation exclusive fut         Nó chỉ cảm thấy
une terreur épouvantable.         sợ kinh hồn.      
 
Sau này những người Việt theo Tây học dần dần chịu ảnh hưởng của lối nói người Pháp. Thay vì nói: “Đề nghị ấy còn đợi chính phủ duyệt y”, họ nói “Đề nghị ấy còn đợi sự duyệt y của chính phủ” (11). Thay vì dùng trạng từ, họ dùng thể từ.

Ông Phan Khôi khoái lối nói mới ấy. Nhưng một nhà ngữ học Pháp, ông G. Galichet, thì lại không hài lòng chút nào về tiếng nói của dân tộc mình: “Ưa dùng thể từ nên Pháp ngữ càng ngày càng có tính cách ‘tĩnh’, trái với nhiều ngôn ngữ khác ưa dùng trạng từ nên có tính cách ‘động’ (...) Tính cách tĩnh của ngôn ngữ phù hợp đến mực nào với vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Pháp hiện nay. Có người đã trách dân Pháp là kẻ bàng quan trên thế giới: đáng lẽ phải hoạt động thì họ chỉ nhìn, chỉ lý luận, chỉ phê bình” (12).

Vậy trước đây chúng ta vốn là một dân tộc ham hoạt động, ham dấn thân chăng? Được thế thì thật quí hóa, nhưng chỉ e ông G. Galichet đưa chúng ta phiêu lưu quá xa.

Thiết tưởng chúng ta có thể nhìn vấn đề dưới một khía cạnh khác.
Về cách dùng thể từ và trạng từ, hai ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đã đưa hai tỉ dụ:
Phong cảnh nơi này đẹp lắm.
Cái nết đánh chết cái đẹp.

và hai ông nhận xét: “Tiếng đẹp ở câu trên là trạng từ, ở câu dưới là thể từ. Đẹp, trạng từ, trỏ một sự trạng thực tại, mắt ta nhìn thấy phong cảnh, cảm xúc mà biết là cảnh đẹp. Vậy, đẹp, trạng từ, là một khái niệm cụ thể. Nhưng, đẹp, thể từ, là một khái niệm trừu tượng.” (13)

Như vậy dùng thể từ phải vận dụng khả năng trừu tượng hóa, khiến đẹp thành ra cái đẹp; dùng trạng từ lại là một cách mô tả, một cách quan niệm sự vật rất cụ thể. Và chúng ta thì bao giờ cũng “chịu” lối mô tả, cũng thích cái cụ thể. Cho nên chúng ta khoái trạng từ.

“Cái đẹp” là gì? đó là một sáng tác của lý trí; nó trừu tượng, nó rắc rối, chúng ta không muốn biết đến. Chúng ta chỉ muốn phô diễn cái cảm xúc do giác quan ghi nhận.

Có lần ông Nguyễn Văn Trung đề cập đến vấn đề này và cũng đi đến một kết luận tương tự (14). Sự công bằng, sự vâng lời v.v. là những lối nói mới, những lối nói xa lạ với tinh thần Việt ngữ, xa lạ “kinh khủng”. Những cái “sự” ấy không dính líu gì đến cảm quan. Cho nên cổ lai trong xã hội của chúng ta không lúc nào thiếu những con người ngoan ngoãn, trong phép tắc luân lý của chúng ta không thiếu những đòi hỏi tùng phục, nhưng trong ngôn ngữ thì thiếu hẳn cái “sự” vâng lời. Lối nói Tây phương đưa vào Việt ngữ gần đây vô số những “sự” như thế: trong cái thế giới ngôn ngữ của một dân tộc thiên về cuộc sống cảm quan, đám “sự” vô tội ấy bỗng nhiên hóa ra vô duyên. Mở những cuốn Kiều, cuốn Lục Vân Tiên, cuốn Chinh phụ ngâm v.v. chẳng hề thấy một “sự” nào tương tự.

Nó thổi sinh khí vào danh từ

Cái tiếng thường đứng trước mỗi danh từ Việt Nam, tiếng ấy là cả một sự rắc rối. Có người gọi nó là tiền danh từ (Phan Khôi), có người gọi nó là loại từ (Trần Trọng Kim, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê), các sách giáo khoa ngoài Bắc hiện nay gọi nó là phó từ, cũng có người coi nó là một bộ phận đặc biệt của danh từ kép (Nguyễn Hồng Phong). Thảo luận qua thảo luận lại, thương xác lui thương xác tới, mãi vẫn chưa có sự đồng ý với nhau về nó. Chỉ nguyên hai tiếng con và cái đã làm chảy bao nhiêu là mực, đã bôi đen bao nhiêu trang sách báo nghiên cứu về ngữ pháp.

Mà tiền danh từ (hay loại từ? phó từ?) Việt Nam thì đâu phải chỉ có hai, ba tiếng hay mười tiếng, trăm tiếng? Trời ơi, ai mà biết được nó đông đảo đến bao nhiêu! Con sông, chiếc lá, hòn đất, nắm xương, mảnh áo, nấm mồ, sợi râu, nỗi lòng, cơn ghen, trận mưa v.v., biết sao mà kể cho hết. Ông Nguyễn Hồng Phong bảo: “Có thể nói có bao nhiêu danh từ, thì gần bằng chừng ấy tiền danh từ.” Ông Nguyễn cho rằng thế thì tiếng nọ không còn phải là tiền danh từ nữa, rằng chuyện tiền danh từ bất thành vấn đề.

Theo cách nói của đồng bào Bahnar, hai người đàn ông là “par nu drânglo”, hai đứa con là “par nu con”, còn hai cái nhà là “par to hnam”, hai con chim là “par to xem”... Trước danh từ chỉ người thì dùng nu, trước mọi thứ khác thì dùng to.

 Ở đồng bào Bahnar có sự chia biệt một bên là người một bên không phải là người, ở dân tộc Pháp có sự chia biệt phía đực phía cái. Nhảm nhí thực, nhưng dù sao thật đơn giản. Và chắc chắn trên đời còn có những dân tộc xài tiền danh từ một cách đơn giản hơn nữa.

Còn như chúng ta, có lẽ sự rắc rối phong phú đã đạt tới chỗ tột cùng, ít ai bì kịp.

Sở dĩ như thế, trước hết là vì trong khi thiên hạ dùng danh từ để gọi tên sự vật, chúng ta không chỉ gọi tên mà thôi: chúng ta còn mô tả sự vật luôn. Loại từ Việt ngữ giúp vào cái việc khó khăn mà đầy hứng thú ấy.

Thỏi sắt, hòn sỏi, viên phấn, tảng đá, đống rơm v.v. hình dạng nào, loại từ nấy.

Gọi phó từ đã đành là một cách gọi thô sơ: sự phân biệt tiếng chính với tiếng phó không nói lên được cái đặc điểm của Việt ngữ. Gọi nó là tiền danh từ cũng chẳng qua là chỉ định được vị trí của nó . Còn gọi là loại từ thì mong nói đến chức vụ của nó: tuy nhiên nói mà thiếu sót biết bao!

Thật vậy, trong cây táo, cây mận, cây chuối, rắn lục, rắn hổ, rắn nước, cá mè, cá chép, cá rô..., những tiếng cây, rắn, cá quả có dùng chỉ từng loại. Nhưng trong trường hợp: mảnh đá, tảng đá, hòn đá, cục đá, khối đá, viên đá v.v. thì loại từ đâu có nhằm phân biệt các loại đá? Vượt quá sự phân biệt chủng loại, nó mô tả đến cả dạng thái của từng vật thể được gọi tên. Tham vọng của nó thật khiếp.

Như ở đồng bào Bahnar chẳng hạn thì đúng là có loại từ: nu chỉ nhân loại, to chỉ phi-nhân-loại. Chứ nói năng như chúng ta thì đâu có đơn giản như vậy?

Các nhà ngữ học quen với những tiếng le, tiếng la, tiếng the..., những tiếng vô vị ở Âu Mỹ, khi trở về gặp lại cái đám đông nghìn nghịt, thiên hình vạn trạng đứng trước các danh từ Việt ngữ, bèn đâm ra bối rối, không biết phải gọi nó bằng tên gì, xếp nó vào đâu, chia nó ra làm bao nhiêu thứ hạng v.v.

Khó lắm thay: làm sao có sự so sánh giữa những tiếng le, la đứng ngẩn ngơ vô tích sự, với những mảnh, khối, nỗi, niềm... của chúng ta, những tiếng đứng bên cạnh để trao một dạng thái cho danh từ, đem lại cho danh từ một thần sắc riêng. Làm sao có sự so sánh ấy mà không gây lúng túng?

Loài người và không phải loài người, chuyện ấy đối với chúng ta không mấy quan trọng; giống đực với giống cái, vấn đề ấy chúng ta cũng không quan tâm bao nhiêu. Tiền danh từ của chúng ta không đặt ra để phân biệt những cái ấy.

Chúng ta chỉ lấy làm quan trọng những ghi nhận của giác quan bằng những hình dạng màu sắc v.v. Mũi thì gọi là cái mũi, nhưng mắt lại là con mắt; trâu thì lúc nào cũng là con trâu, nhưng kiến thì có thể là cái kiến. Một bên linh động, một bên không linh động; một bên là giọng bình thường, một bên bị khinh thị: những ghi nhận như thế chúng ta không bỏ qua.

Và không phải chính vì được gọi là con tàu, con thuyền, con sóng, con bún v.v. mà những vật vô tri nọ đã trở thành sống động, đã “sống” được đó sao? Không phải cái tiếng nói của chúng ta đã thổi sinh khí vào những vật vô tri đó sao?

Thì xưa nay vẫn thế. Những biện luận trừu tượng, những công việc phân loại tinh vi nhất không bao giờ làm sống động sự vật được đề cập tới. Có làm sống động được chăng một cành cây trong bức tranh, một cánh bướm trong câu thơ, ấy là nhờ ở những ghi nhận của cảm quan người nghệ sĩ.

Cái thứ tiếng đứng trước các danh từ Việt ngữ là một thứ tiếng của nghệ thuật.

Chúng ta nói tiếng nói của giác quan, mà cũng là tiếng nói của tình cảm nữa.

Lão thợ rèn, gã thợ rèn, ông thợ rèn, bác thợ rèn..., tất cả đều là người thợ rèn. Nhưng mỗi người đặt trong một quan hệ tình cảm khác nhau đối với kẻ nói.

Trong đời sống, quanh ta có kẻ gần người xa, kẻ dưới người trên, kẻ thân người sơ, kẻ khinh người trọng...; khi nói “một người thợ rèn” là đã có sự tách lìa nhân vật trừu tượng nọ ra khỏi mọi quan hệ gần xa, trên dưới, thân sơ, khinh trọng v.v. Chúng ta không hay làm cái công việc tách lìa ấy. Chúng ta không nói một cách “khách quan”. Chúng ta nói đến một người nào là đồng thời nói luôn cả cái tình cảm của mình đối với người ấy.

Thái độ ấy không khỏi làm ngỡ ngàng người ngoại cuộc. Hãy tưởng tượng cái tình cảnh khốn đốn của một người Pháp, người Anh học tiếng Việt, mỗi lần ậm è cân nhắc giữa những gã, lão, ông, bác v.v. để chọn lựa một tiếng thích hợp. Hễ động nói đến ai cũng phải khai trình minh bạch liên hệ tình cảm, sao mà khổ sở quá vậy? Đó là điều bắt buộc không thể trốn thoát đối với những ai muốn nói tiếng Việt: điều bắt buộc do cha ông chúng ta kín đáo gửi vào qui luật vận dụng tiếng nói dân tộc. Điều bắt buộc đối với kẻ khác, nhưng đối với chúng ta thì không, nó đáp ứng một nhu cầu tình cảm khiến chúng ta chẳng những xoay xở hết sức dễ dàng thoải mái giữa bao nhiêu rắc rối mà thỉnh thoảng lại còn đặt thêm ra những tiếng mới để “bổ túc” cái rắc rối ấy.

Đã từ hai nghìn năm nay, chúng ta được biết một đức Khổng Tử. Hồi đầu năm 1974 này, có 48 chiến sĩ Việt Nam bị quân đội Trung Cộng bắt từ quần đảo Hoàng Sa đem về Quảng Châu giam giữ. Tại đây, lần đầu tiên họ nghe nói đến một tên Lâm Bưu với một thằng Khổng Tử! Họ sững sờ.

Trong tiếng nói của Âu Mỹ, Confucius bao giờ cũng là Confucius. Ở ta cái tiếng đứng trước danh từ đưa các danh từ nọ vào một thế giới tình cảm đầy những chuyện phức tạp, tinh vi, tế nhị, phiền toái.

Vì là tiếng mô tả, cho nên thứ tiếng ấy đã làm cho nhiều danh từ trừu tượng mất vẻ trừu tượng.

Lẽ ra, theo các ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, loại từ phổ thông sự (hay việc) đi với các tiếng trừu tượng: sự thật, việc đấu tranh, sự vâng lời, việc học hành... Nhưng thường khi chúng ta không dùng các tiếng sự hay việc; chúng ta nói: nền văn hóa, mối tình, cơn ghen, trận lôi đình... Do đó, những giận, ghen, tình... thành ra được nhuốm ít nhiều tính cách cụ thể.
Lại vì là tiếng tình cảm, cho nên cách dùng nó thật rắc rối. Nói “người ấy”, được; nói “con người ấy”, cũng được; mà nói “cái con người ấy” lại cũng được nữa. Được cả, đại khái cũng giống nhau cả, mà thật ra lại không giống hẳn nhau. Chỉ vì tiền danh từ: khi thì không dùng, khi thì có dùng, khi lại dùng trùng điệp. Mỗi sự thêm bớt đem vào câu nói một không khí tình cảm khác nhau.
Cái thứ tiếng cho là phụ (phó từ), để chỉ loài (loại từ), đặt trước các danh từ (tiền danh từ), trong các ngôn ngữ khác ở đâu mà được vậy chăng?

Thân xác trong mỹ từ pháp

Chúng ta có tiếng “yêu đương”, nhưng ít khi chúng ta dùng đến tiếng ấy. Nghe nó nghiêm chỉnh, vô vị thế nào.

Khi văn hoa bóng bẩy, khi nghịch ngợm sỗ sàng, chúng ta đều thích xài những tiếng khác kia: trai gái, chim chuột, giăng dện, gió trăng, mèo mỡ, ong bướm, trăng hoa v.v. Có khi lại còn nói: “Hai đứa nó tò tí với nhau, tằng tịu với nhau...” Tất cả đều chỉ thị cái ý yêu đương theo nghĩa tình cảm.

Còn đối với cái động tác yêu đương mà người Tây gọi là làm ái tình, mà người Tàu bảo là ân ái, chúng ta không chịu những lối nói ấy. Để diễn tả một động tác mà dùng làm chi các tiếng quá đỗi trừu tượng là ái tình, ân ái? Chúng ta nói: Hoặc ngủ với nhau, hoặc ăn ở, ăn nằm, chung chạ, hoặc chăn gối, v.v.

Chúng ta tìm ra thật dễ dàng nhiều lối nói cụ thể, thay vì dùng một tiếng trừu tượng.

Ông Nguyễn Hồng Phong (trong bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam) đã nói nhiều về cái đặc điểm này của chúng ta, là dùng những tiếng cụ thể, liên quan đến các trạng thái vật chất, để chỉ những điều trừu tượng, thuộc về tinh thần.

Vặn, trượt, xỏ, quay... chỉ những động tác cụ thể, nhưng chúng ta đã nói: hỏi vặn, thi trượt, nói xỏ, thầy quay học trò một hồi v.v. làm cho những ý tưởng trừu tượng nọ mất tính cách trừu tượng.

Ngậm, nuốt, gỡ v.v. là những động tác cụ thể; chúng ta dùng để chỉ những chuyện trừu tượng: ngậm hờn, nuốt giận, gỡ tội...

Sắc bén là tiếng mô tả một trạng thái cụ thể; nhưng khi chúng ta nói: “con người sắc bén” thì tiếng ấy lại chỉ một tính cách của tâm lý, tức một cái gì lẽ ra phải trừu tượng. Bao nhiêu là tiếng như: chua chát, đắng cay, ngọt bùi, mặn mà v.v. đều thường dùng như thế cả.

Trước một người con gái đẹp, nhiều dân tộc khác cũng có những ham muốn táo bạo, “ăn tươi nuốt sống”, có thể dùng tiếng ngon lành lắm. Nhưng có lẽ ít dân tộc dùng tiếng thơm thay cho tiếng đẹp (Con bé thơm lắm). Tiếng thơm còn có khi thay thế cho những tiếng khác, ngộ nghĩnh hơn: “Oeo-phe ở tiểu bang này thơm hơn ở tiểu bang kia!” Có lẽ cũng có ít dân tộc thấy sắc đẹp này mặn mà, sắc đẹp nọ lạt lẽo. Khó có ai đi xa như chúng ta trong việc đưa các giác quan vào chuyện thưởng thức sắc đẹp đến thế.

Chúng ta nói: con người phổi bò, cái thằng đầu bò, anh chàng to gan. Đó là mô tả hình dạng đó chăng? là mô tả các bộ phận phổi, đầu, gan của những nhân vật kỳ dị chăng? Không! là tâm lý đấy, không phải là hình dạng đâu. Cũng như lời ong bướm, nghĩa đá vàng, lời đường mật v.v. những tiếng cụ thể ấy đều diễn những ý trừu tượng cả.

Ông Nguyễn Văn Trung cũng dùng những lối nói đặc biệt ấy để chứng minh rằng ngôn ngữ của dân tộc chúng ta có nhiều liên quan với kinh nghiệm thân xác. Một tình thế có thể khó khăn, một hoàn cảnh có thể éo le, nhưng sao đối với chúng ta nó lại là đắng cay, chua chát? Chúng ta đem những kinh nghiệm của vị giác, của cái lưỡi, của thân xác, để diễn tả những ý tưởng trừu tượng. Như thể là dân tộc chúng ta không tách biệt hồn với xác, tinh thần với vật chất, như thể chúng ta suy tưởng bằng cả thân xác của mình.

— Chỉ có chúng ta làm như vậy sao? Đâu phải. Ở đâu mà chẳng có những cách nói ấy? Đó chẳng qua là những mỹ từ pháp thông dụng, phổ biến.

— Việc dùng mỹ từ pháp để cụ thể hóa cái trừu tượng ở đâu cũng có. Dân tộc nào cũng có thân xác, và cũng biết vận dụng kinh nghiệm của thân xác vào ngôn ngữ. Tuy vậy, các ông Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Hồng Phong không phải không có lý: Có dân tộc gắn bó nhiều hơn, có dân tộc gắn bó ít hơn với thân xác. Đâu phải ai cũng như nhau? Có thể chúng ta hơn người ở mức độ...

— Biết làm sao chứng minh so sánh?

— Quả thật việc ấy khó khăn. Hãy thử một vài cố gắng. Ta có câu thơ: “Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn”. Những dân tộc khác quanh ta, từng tới lui tiếp xúc với ta, có chăng một lối “nghe” như thế? Có ai đưa lỗ tai đến những trường hợp ấy chăng? Ít lắm!

Một lập luận không đúng, chúng ta chê: “Nghe bất thông! Nghe không vô!” Có ai “nghe” vậy chăng? Có lẽ cũng ít lắm. Đúng với không đúng là chuyện của luận lý, của trí phán đoán; chúng ta biến nó thành một chuyện của giác quan.

Một hành vi, một thái độ bất lịch sự, bất nhã, chúng ta “thấy không ổn”, thấy “khó coi”. Đối với nhiều dân tộc khác, đây đâu phải là vấn đề “coi” với “thấy”? Là vấn đề phán xét đấy chứ. Chúng ta không phán xét bằng trí óc, mà như chừng muốn phán xét bằng giác quan.

— “Một vài cố gắng”, sự cố gắng thật vất vả, mà e không đi tới đâu. Làm sao có thể viện dẫn từng trường hợp một để so sánh? Công việc vô cùng vô tận, không làm xiết nổi. Vả lại trong thơ văn các nước, có thể tìm ra những thí dụ mỹ từ pháp thật tài tình.

— Cái tài tình của cá nhân. Cái đó thiết tưởng không nên nói đến: chúng ta không tìm kiếm những kỹ thuật cá nhân. Chúng ta tìm hiểu ngôn ngữ là chỗ phản ảnh thiên năng của cả một dân tộc.

“Lòng chưa tìm hiểu, mắt trao hôn”

Dùng chữ “trao hôn” để diễn tả ánh mắt tha thiết là cách cụ thể hóa tài tình một tư tưởng, nhưng là cái tài tình của một cá nhân thi sĩ. Thi sĩ ấy có thể đua tranh với những thi sĩ khác của nước ngoài, có thể hơn, có thể thua. Việc ấy không liên quan gì đến đặc điểm của Việt ngữ.

“Mắt trao hôn” có thể là lối nói tài tình hơn “gỡ tội”, “ngậm hờn”; nhưng “gỡ tội”, “ngậm hờn” là công trình của cả dân tộc, là một kết quả tìm tòi chung. Nó không nêu cao cái tài riêng của một ai, mà là cái khuynh hướng chung của dân tộc.

Vì vậy không nên lục soát sưu tầm làm gì những mỹ từ pháp dùng trong thơ văn, mà chỉ nên lưu ý đến những cách nói phổ biến trong ngôn ngữ .

— Những cách nói ấy, chúng ta có chắc nhiều hơn thiên hạ?

— Người ta có cảm tưởng thế. Ít ra là các nhân vật đã nói trên đây: các ông Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Văn Trung.

Các hư tự

  “Hỡi cô tát nước bên đàng
  Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”

Câu ca dao ấy có nơi được hát là:
(...) “Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?”

Ý nghĩa chẳng có gì thay đổi, nhưng chữ “lại” của câu dưới thêm vào một vẻ ngạc nhiên có ngụ chút trách móc trong giọng nói. Dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hoa v.v. chữ “lại” ấy phải dịch ra làm sao? liệu có tìm được tiếng tương đương chăng?

E khó lắm. Mà dẫu có tìm được tiếng ngoại ngữ tương đương với một chữ “lại” ấy thì cũng chẳng thấm vào đâu: trong Việt ngữ có quá nhiều tiếng hư tự ỡm ờ. Nguyên một tiếng “đâu”, có người đã đếm được trong cuốn Kiều chín chục trường hợp dùng khác nhau, với những dị biệt cực kỳ tinh tế; một tiếng “đâu” ấy cũng đủ làm điêu đứng khốn khổ các dịch giả thận trọng rồi, nói gì đến bao nhiêu hư tự khác!

Nhân nói đến Kiều, chúng ta nhớ tới câu:
“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu”

Chữ “là” ấy có nghĩa gì đâu? Nhưng nó làm cho cái cảnh hoa trôi kia càng thêm man mác. Liệu có hi vọng tìm ra một tiếng tương đương trong ngoại ngữ?

“Bao giờ đến giữa tháng mười
Con gái làm cỏ con trai be bờ.”

Nói thế thì không biểu lộ một tình cảm gì. Nhưng nếu nói:
“Bao giờ cho đến tháng mười.”

hay
“Bao giờ mới đến tháng mười”
giọng nói lộ ý mong mỏi, ao ước rõ ràng.

Nói: “Còn quả mận này cũng sắp rụng” là nêu ra một nhận xét khách quan; nhưng nói: “Còn quả mận này cũng sắp rụng mất” thì có giọng lo lắng, luyến tiếc.

“Hãy để nó tự làm bài của nó”. Nói thế cũng được, nhưng khi cần nhấn mạnh hơn thì ta nói: “Hãy để nó tự làm lấy bài của nó.”

Theo ông Lê Văn Lý (15), hư tự là những tự ngữ được sử dụng như những dụng cụ ngữ pháp.

Cái dụng cụ ngữ pháp ấy hoặc để thay thế các phụ gia ngữ và ngữ vĩ vốn không có trong tiếng Việt, hoặc để biểu lộ tình cảm, để mô tả, nhấn mạnh trong câu nói.

Về cái công dụng thứ nhất, tưởng không có gì đáng nói thêm. Ở các ngôn ngữ tiếp thể (affixant) như tiếng Anh, tiếng Pháp, có những tiếp đầu ngữ, tiếp vĩ ngữ; ở ngôn ngữ Việt Nam chúng ta không có loại phụ gia ngữ ấy, cho nên chúng ta phải dùng hư tự thế thôi, không có gì lạ.

Nhưng về cái công dụng sau, thì không phải chỉ là một vấn đề ngữ pháp, nó liên quan đến một đặc điểm tâm lý của dân tộc: cái tâm lý thích biểu lộ, mô tả, nhấn mạnh.

Ông Lê Văn Lý nói: “Tính tình người Việt Nam ưa thích hình ảnh, màu sắc, những kiểu nói bông hoa (16) bóng bẩy, hiện nay đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ của người Việt, và vì thế tiếng Việt Nam có nhiều hư tự là những tự ngữ (...) thêm vào những từ ngữ mà chúng chỉ định một màu sắc mới, hay những chi tiết làm nổi bật ý nghĩa của tự ngữ chính lên.”

Vì cái “tính tình người Việt Nam” nó có sự ưa thích kỳ lạ như thế, cho nên vẫn ông Lê Văn Lý cho biết rằng người Việt Nam chúng ta xài nhiều hư tự hơn thiên hạ; “Hầu hết các ngôn ngữ đều có những hư tự, như kiểu các hư tự Việt Nam (...) Nhưng có lẽ ít ngôn ngữ có nhiều hư tự như tiếng Việt Nam.”

Trong cái công dụng thứ hai của hư tự Việt Nam như ông Lê đã nêu ra (biểu lộ, mô tả, nhấn mạnh), chúng tôi nghĩ có thể tách ra làm hai phần; một bên là mô tả, một bên nữa là biểu lộ, nhấn mạnh.

Những thí dụ mà chúng tôi đã viện dẫn vừa rồi đều chứng minh công dụng biểu lộ các tình cảm; hoặc ngạc nhiên trách móc, hoặc mong mỏi ao ước, hoặc lo lắng luyến tiếc v.v. Không có những tiếng lại, là, cho, mới, mất, lấy, thì câu nói vẫn rõ nghĩa; nhưng không có những tiếng ấy thì thái độ tình cảm của người nói không được biểu lộ rõ ràng.

Chúng ta nói không chỉ mong diễn đủ rõ nghĩa; chúng ta còn nói để phô bày tình cảm. Cho nên ngoài những tiếng có thực nghĩa, chúng ta cần nhiều tiếng rỗng nghĩa (hư tự); ngoài ngữ ý, chúng ta cần nhấn mạnh đến ngữ khí, ngữ điệu.

Tiếng thực là tiếng của ý nghĩa, lý trí; tiếng hư là tiếng của tình cảm. Ngôn ngữ của chúng ta phong phú về loại tiếng hư.

“Biểu lộ” một tình cảm hay “nhấn mạnh” vào một tình cảm: đây là tình cảm của người nói. Trong trường hợp này các hư tự giúp cho kẻ nghe hiểu biết thêm rõ về người nói.

Còn trong trường hợp “mô tả”, các hư tự giúp người ta hiểu biết thêm rõ về sự vật được nói đến.
Người Pháp nói s’asseoir; chúng ta nói rõ hơn; khi thì ngồi xuống, khi lại ngồi lên, khi khác lại còn là ngồi dậy. Động tác “ngồi” trong tiếng Việt được mô tả kỹ; đang đứng mà ngồi thì là ngồi xuống, đang nằm mà ngồi thì lại ngồi lên, ngồi dậy.

Dĩ nhiên không phải chỉ có chuyện ngồi mới rắc rối. Đối với chúng ta, bất cứ ngồi, nằm, đứng, đi, quăng, ném v.v., chuyện gì hễ nói đến là cũng cần mô tả cho rõ ràng. Có những điều chẳng cần mô tả chút nào, chúng ta cũng cứ mô tả. Chẳng hạn: rơi, rụng, thì bao giờ cũng rơi xuống, rụng xuống chứ có đời nào lại rơi lên, rụng lên? Thế nhưng chúng ta vẫn thêm vào hai động từ ấy một tiếng hư tự mô tả.

Thiết tưởng người Việt Nam ưa thích hình ảnh, màu sắc như thế không phải là vì ưa thích “những kiểu nói bông hoa bóng bẩy” đâu. Đó có lẽ là vì chúng ta ưa thích cái cụ thể.

Thật vậy, nếu không vì cái cụ thể thì không phải nguời Việt Nam lúc nào cũng ham chuộng rõ ràng. Hai ông Nguyễn Hiến Lê và Trương Văn Chình (17) có lần dẫn một câu của ông Trương Vĩnh Tống: “Thuật đã thi hành, mười ngón tay nhà vua đụng vô vật gì thì trở nên vàng hết. Rờ tới bút nghiên đĩa chén, đều hóa ra vàng.” Hai ông cho rằng đối với một người chịu ảnh hưởng Pháp ngữ thì câu ấy không được rõ ràng. Muốn cho được rõ ràng theo tinh thần Pháp ngữ thì phải viết: “Thuật đã thi hành, mười ngón tay nhà vua đụng vô vật gì thì vật ấy trở nên vàng hết! Tay nhà vua rờ tới bút nghiên đĩa chén, những vật này đều hóa ra vàng”.
Như vậy đâu có phải ta luôn luôn nói năng rõ ràng hơn thiên hạ? Pháp ngữ vẫn có tiếng là sáng sủa, minh bạch, rõ ràng hơn Việt ngữ của chúng ta nhiều. Thế nhưng khi lý luận, khi cần kết cấu một tương quan luận lý cho chặt chẽ trong câu nói, thì người Pháp rõ ràng. Mà khi mô tả sự vật cho cụ thể, thì ta lại rõ ràng hơn người Pháp bội phần.

CÁI CỤ THỂ VÀ VĂN HÓA DÂN TỘC

Trong tiếng nói của một dân tộc thấp thoáng cái cách họ cảm xúc, cách họ nhìn đời, cái tâm lý của họ; trong tiếng nói có phản ảnh tâm hồn của dân tộc.

Việt ngữ — như chúng ta đã thử tìm hiểu — ở cấu trúc của câu nói, ý nghĩa của từng lời nói, ở một số tự loại riêng biệt, cho đến ngay cả ở cách phát âm ra mỗi tiếng nữa, Việt ngữ trên nhiều phương diện luôn luôn chứng tỏ một khuynh hướng thiên về cái cụ thể hơn là trừu tượng, về cảm quan hơn là lý trí.

Mặt khác chúng ta cũng biết rằng trải qua lịch sử dài hơn bốn nghìn năm, ở Việt Nam không có triết gia, nước Việt Nam không có một nền triết học thành văn, và vấn đề quốc học đã từng là thắc mắc một thời của giới trí thức Việt Nam. Có phải cái vắng thiếu triết học ấy là một hậu quả của sự yếu kém về khả năng trừu tượng? Người Việt Nam đã để cho trực giác và lương tri hướng dẫn trong cuộc sống, lúc bình thường cũng như khi nguy biến, qua mọi bất trắc gian nan. Tất nhiên họ có quan niệm riêng về thiên nhiên và về đời sống, nhưng quan niệm ấy không được trình bày dưới hình thức những hệ thống lý luận trừu tượng. Quan niệm ấy bàng bạc trong nếp sinh hoạt và trong thơ văn.

Thơ văn, nhất là thơ, đó là cái sở trường của dân tộc Việt Nam. Tôi không hề có ý so sánh để tranh giành một ngôi vị cho Việt Nam; chắc chắn trên đời còn có nhiều dân tộc khác cũng yêu mến thi ca, có thể yêu hơn dân Việt Nam. Washington Irving sang Tây-ban-nha viếng cung đền Alhambra và đã có dịp tìm hiểu suy nghĩ về người Maure; ông bảo rằng người Maure rất thích làm thơ, đến nỗi có những kẻ hành khất cũng ham làm thơ. Ở Việt Nam hiếm thấy một hành khất như thế, nhưng ở Việt Nam có những tử tội đứng trước máy chém còn ngâm thơ. Ở Việt Nam không cần biết chữ mới làm thơ, dù dốt nát đến đâu người ta vẫn làm thơ được. Thơ tràn lan khắp hang cùng ngõ hẻm. Và dĩ nhiên tràn lan khắp sách báo: Không có tờ báo nào, kể cả những nhật báo tám trang, sáu trang, bốn trang, mà không có chỗ dành cho thơ. Một ngày không có thơ là một ngày không chịu được. Một trang chữ, một mảnh giấy không có thơ liền bị xem là khô khan.

Phải chăng đó là thể hiện của khuynh hướng thiên về cái cụ thể? Bởi vì — trái với triết lý — ngôn ngữ thi ca là ngôn ngữ đầy hình ảnh, đầy âm điệu gợi tả, thứ ngôn ngữ đầy những “bức họa bằng lời” sống động v.v.
Là một dân tộc như thế, sau tháng 4-1975, người Việt Nam ra đi hàng triệu người, di dân Việt Nam tản mác khắp nơi, chung sống với nhiều dân tộc mới, sử dụng những ngôn ngữ mới mẻ. Ở đây ta không nói đến ảnh hưởng của xã hội, của hoàn cảnh v.v., chỉ riêng cái ngôn ngữ mới mà hàng ngày người di dân dùng để diễn đạt cảm xúc và suy tưởng của mình chắc chắn cũng dần dần ảnh hưởng đến cách cảm nghĩ, đến tâm hồn họ.
Phần lớn trong tổng số di dân Việt Nam sống ở những xứ nói tiếng Anh và Pháp, sống với những dân tộc từng có thành quả cực kỳ rực rỡ về các ngành triết học, toán học, những ngành đòi hỏi một khả năng trừu tượng cao độ. Hàng ngày các di dân đọc những tờ báo dày hàng trăm trang mà quanh năm không hề gặp một bài thơ nào cả. Không có thơ trên nhật báo, trên tạp chí hàng tuần, hàng tháng nào cả.

Cái mà di dân Việt Nam đem đến các xứ này là tinh thần cụ thể, là sự nhận thức thiên về cảm quan, không biết có gây được ít nhiều ảnh hưởng đến văn hóa địa phương chăng. Nhưng cái mà di dân Việt Nam tiếp nhận từ địa phương chắc chắn là cải biến nếp cảm suy của họ nhiều lắm và sâu xa lắm.

Di dân Việt Nam sống khắp chân trời góc bể, nếu còn truyền nhau giữ được Việt ngữ là còn giữ được một trong những phương tiện để duy trì một cách cảm nghĩ chung, một lối “đi về” với nhau về mặt tinh thần. Nếu họ chỉ nói được tiếng địa phương mà thôi thì năm ba thế hệ sau người gốc Việt xứ này gặp người gốc Việt xứ nọ, kẻ từ Do Thái, Nhật Bản, người từ Đan-mạch, Na-uy, từ Mỹ, từ Pháp... gặp nhau, chắc chắn họ không chỉ bỡ ngỡ vì khác tiếng nói, mà còn bỡ ngỡ hơn trước những xa cách trong tâm hồn.

Sài Gòn 1973
California 1988

10.  Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Trung tâm Học liệu xb, 1968, trang 210. 
11. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, trang 678, 680. 
12. Essai de grammaire du francais moderne, do Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê trích dịch, sđd, trang 681. 
13. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam , trang 162.  
14. Lược khảo văn học II, trang 83. 
15. Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam. 
16. “văn hoa” chăng? 
17. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Vừa nhắm vào văn hoá viết vừa nhắm vào văn hoá đọc, trong cuốn sách này, đề cập đến mấy vấn đề chính: vai trò của lý thuyết, chức năng điển phạm hoá (canonization) và giải điển phạm hoá (decanonization) của phê bình, nhu cầu đổi mới, đề tài chiến tranh trong quan hệ với hiện thực và với quá trình tái cấu trúc ký ức tập thể, ý nghĩa của văn hoá tục, tính văn bản và liên văn bản của văn học, lưu vong với tư cách một phạm trù mỹ học, và cuối cùng, việc du nhập chủ nghĩa hậu hiện đại vào văn học Việt Nam. Ðó là những vấn đề căn bản và quan trọng nhất hiện nay.

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu

Giới thiệu

Giới thiệu
Tìm hiểu về văn học lưu vong, do đó, thực chất là tìm hiểu về tính chính trị, thi pháp và ngữ nghĩa học của gạch nối (semantics of the hyphen). Cái dấu gạch nối ấy là cái ở giữa (in-betweenness), là không gian xuyên quốc gia (transnation), xuyên văn hoá (transculture) và xuyên ngôn ngữ (translanguage).