Tìm kiếm Blog này

Bùi Ngọc Tấn - Khói

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012


Bùi Ngọc Tấn

Mặt trời khuất sau ngọn núi cao nhất của cả một dải rừng. Trên đỉnh núi nhô lên như một cái vú bầu bĩnh ấy mọc những cây đại thụ, giờ đây không trông thấy chiều dầy của cành lá nữa mà giống như một bức màn mỏng đính vào nền trời xám. Ông Thản khoác khẩu AK đã lên đạn sẵn nhưng được khoá cơ bẩm và ngước nhìn về phía ấy. Chung quanh ông là rừng rậm. (Gọi ông Thản là gọi theo cách của tù. Ông Thản là một thanh niên chưa quá 19 tuổi).


Ông Thản biết trên đỉnh núi cao nhất kia, các đồng chí của ông đang đưa ống nhòm phóng tầm mắt ra bốn phía, tìm trong tán lá rừng già trải ở phía dưới những dấu hiệu khả nghi. Một bóng người lộ ra ở bìa rừng, lối xuống bản đồng bào Mán. Một sợi khói mỏng như tơ. Và lùng sục. Tay giữ chặt giây xích, ghì lại những con chó béc giê giống Ðức hăng hái lao đi phía trước. Cố tìm ra một dấu vết nào đó như một mẩu vỏ bí dúi vào bụi cây, một hạt cơm vãi bị lá rừng phủ lên, một cành cây gẫy đáng nghi, một chút hơi người trên thảm lá mục. Dân bản cho biết đêm trước một nhà bị mất một quả bí trong vườn, một nhà khác có nồi cơm nguội để dưới bếp bị vét sạch. Vậy là thằng Dương còn quanh quẩn vùng này. Cái thằng tù trốn trại ấy. Nó chưa thể đi xa được. Một bán kính 15 ki lô mét quanh trại đã được bủa vây chặt chẽ. Các bến tầu, bến xe đều có người canh gác.

Nhưng thằng Dương vẫn bặt tăm hơi. Nó trốn trại vào ban đêm. Ði lối nhà mét (1). Cũng may, nó trốn cách ấy. Không ai bị quy trách nhiệm cả. Chứ nếu nó trốn trong lúc đi làm thì lôi thôi to. Hẳn bọn ông đã có người khốn khổ.

Có tiếng động phía sau lưng. Ông Thản quay lại, cúi nhìn. Không. Không có ai. Hình như là một cành cây gẫy. Còn sáng thế này nó chưa dám đi đâu. Còn chui rúc ở một hang hốc nào đó. Có khi nó lại leo lên cây, ngồi ngay trên đầu mình. Bất thần ông ngước mắt nhìn lên. Rừng rậm. Một thứ rừng quanh năm xanh tươi, không có mùa rụng lá. Những cành cây phủ đầy rêu ken dầy, quấn quít dây leo. Những dây leo vĩ đại lá to như lá cọ, im lặng để rơi những bông hoa hình loa kèn nặng nề, chín nẫu bộp, bộp xuống thảm lá mục. Một con chim lớn từ đâu bay tới, đỗ xuống ngọn cây, ông thấy thoáng đôi cánh rộng êm ru ở khoảng trời xám nhạt hiếm hoi lộ ra trên tán lá.

Ông lại khoác súng bước đi. Suối chảy róc rách dưới chân chỉ làm tăng thêm vẻ hoang vu tịch mịch của rừng. Ông đi không nghĩ ngợi và cũng chẳng biết mình đang đi đến nơi nào nữa.

Bất chợt ông nhìn thấy một nương sắn đã rỡ. Giữa nương sắn có một cái miếu nhỏ hoang tàn và một cây si cằn cỗi nhưng có rất nhiều rễ phụ toả xuống. Vậy là sắp tới nhà bò. Ông biết mình đang đi dần về phía trại. Ông dừng lại, nhìn ngắm. Những buổi chiều cô đơn trong rừng buồn tái tê. Ðành rằng có rừng ở chung quanh đấy, nhưng cũng như người, rừng cô đơn. Và cũng như người, rừng im lặng với nỗi cô đơn của mình, không trò chuyện.

Ông lại đi. Ông nghĩ tới thằng Dương. Nó là sinh viên năm thứ tư, vào tù vì tội đánh nhau với thanh niên địa phương trường sơ tán, án tám năm. Ðã tù bẩy năm. Chỉ còn một năm nữa. Mà không cố được. Ðã vượt qua bẩy năm. Rồi bỗng thấy không chịu đựng thêm nổi một ngày. Thật là khó hiểu. Và ngu xuẩn. Chỉ vì nó mà bao nhiêu người phải khổ. Năm ngày đêm rồi. Không biết năm ngày vừa rồi nó sống bằng gì. Tý cơm nguội. Quả bí non. Lẩn lút chui lủi trong rừng mãi sao nổi. Trước mắt nó chỉ có một con đường: Chịu sự cải tạo.
Tiếng suối vẫn khi gần khi xa. Bài ca muôn thuở của rừng. Ông lại nhìn lên đỉnh núi cao nhất như một cái bầu vú, tìm ánh mặt trời còn sót lại. Bỗng ông giật mình: Khói. Phía rừng bên kia có khói. Làn khói mỏng manh thẳng đứng lẫn trong sương tỏa trên tán cây rừng. Ông định thần nhìn lại. Ðúng là khói. Phấn chấn hẳn lên, linh hoạt hẳn lên, ông bước sang phía rừng bên ấy, nhẹ nhàng như một con báo. Tay lăm lăm khẩu AK, ông bước khom khom, căng thẳng. Chốt hãm cơ bẩm được nhẹ nhàng kéo xuống. Nếu đấy là thằng Dương, nếu nó chạy, ông cũng không bắn đuổi theo đâu. Ông chỉ bắn chỉ thiên thôi. Vừa là để cảnh cáo bắt nó đứng lại, vừa để báo động cho đồng đội đến mà bắt mà trói nó, giải nó về trại. Nó phải hiểu rằng nó không thể trốn đâu thoát. Dù có ra  khỏi trại. Dù có vượt qua được những cánh rừng bạt ngàn này. Nó đã làm xáo động cả trại. Nó làm bọn ông xiết bao khổ sở. Hôm nay trời khô, còn đỡ. Mấy hôm trước trời đổ mưa dầm. Mỗi cái lá là bao nhiêu nước. Bọn ông lội suối, chui rừng. Người, chó ướt đẫm. Rét cóng. Ðói nữa. Vắt bám cả trên gáy, cả dưới nách. Nó hành hạ bọn ông. Cái thằng khốn nạn ấy. Ðồng chí trung úy chỉ huy, từ dốc suối chui ra, vuốt những con vắt bám vào bắp chân, rít lên:
- Thằng chó đẻ. Rồi mày phải trả chúng ông món nợ này.

Tất nhiên nó phải vào xà lim. Cùm. Húp cháo loãng. Về tội trốn tránh cải tạo. Nhưng trước khi dong nó về trại phải cho nó biết thế nào là trốn trại... Ðấy là bực lên thì nghĩ thế, nói thế thôi. Có khi bắt được nó, nhìn vẻ mặt thiểu não, tuyệt vọng, dáng vẻ tiều tuỵ của nó lại thương, lại kín đáo dúi cho nó mẩu lương khô chưa biết chừng.

Ông Thản tháo giầy lội qua suối. Nước cắn vào chân. Người ông run lên. Chẳng đợi khô chân, ông xỏ vội vào đôi giầy vải. Và nhẹ nhàng rẽ bụi cỏ lau. Bước lên bìa rừng bên kia.

Thật sự ông không tin đó là thằng Dương. Chẳng thằng tù trốn trại nào lại đi nổi lửa vào lúc trời còn sáng như thế này. Nhưng dù sao làn khói cũng là mục tiêu để ông đi đến. Ðể ông tìm hiểu. Ðể ông trò chuyện. Ðể ông chấm dứt cảnh cô đơn. Và biết đâu từ đám khói lại mò ra tung tích thằng Dương.

Trước mặt ông là một đống lửa nhỏ. Nhưng rừng rực than hồng. Hẳn là một loại củi chắc. Một người quần áo xanh xám, thứ mầu vải quá quen thuộc với ông. Mầu quần áo của bọn phạm. Thoáng nhìn ông đã biết ngay không phải thằng Dương. Ðó là thằng Thắng chăn bò. Nó ngồi trên gốc cây bị cưa cụt, gục đầu vào hai cánh tay, bất động. Lâu lâu nó lại giơ hai tay ra huơ huơ trên đống than hồng hoặc vun những mẩu củi ngắn vào đống lửa. Không thấy nó đun nước. Cũng không thấy nó nấu nướng cái gì đó. Nó chỉ ngồi sưởi. Mà cũng không phải là sưởi. Nó ngồi gục đầu im lặng trước đống lửa. Thế thôi.

Gần một năm trời lên đây, ông vẫn không hiểu được vì sao bọn phạm rất thích lửa. Ði làm, việc đầu tiên là nổi lửa cái đã. Chúng tản ra mỗi người một phía và trở về với những củi gộc, củi cành. Chỉ một thoáng đống lửa đã bốc lên rừng rực. Rét như thế này, họ đốt lửa đã đành. Về mùa nực cũng một đống lửa to không kém.

 Nhìn đống lửa đã vạc, tự nhiên ông thấy rét run người. Ông thèm được sưởi, được trò chuyện. Ông Thản khoá nòng súng, bước thẳng về phía đống lửa.

Anh tù chăn bò giật mình khi thấy ông công an vũ trang khoác súng đi tới. Anh đứng lên, hai tay duỗi thẳng, ép vào đùi:
- Chào cán bộ.

Ông Thản ra hiệu cho anh chăn bò tự nhiên. Anh tù lễ phép ngồi xuống một cành củi gần đó, nhường gốc cây cụt cho ông vũ trang.

- Cho bò về chuồng rồi à?

- Báo cáo ông, vâng.

- Chưa về trại à?


- Thưa cán bộ, tôi sưởi một tý. Hôm nay rét quá.
- Anh tù bao lâu rồi?

- Thưa cán bộ, tám năm rồi.

- Án bao nhiêu?

- Hai mươi năm.

- Anh năm nay bao nhiêu tuổi?

- Thưa cán bộ, năm mươi hai ạ.

Ðược nói chuyện một tý ông Thản thấy vui vui, lại được hơi lửa hắt vào mặt, vào người dễ chịu quá. Ông định tiếp tục câu chuyện, muốn hỏi Thắng mắc tội gì, nói với Thắng rằng bọn ông cũng rất nhớ nhà và nếu ai cũng tự giác cải tạo như Thắng thì bọn ông đỡ vất vả, nhưng một hồi kẻng từ xa vọng lại. Tiếng kẻng đập vào vách núi này, hắt sang vách núi khác như tất cả rừng núi cùng ngân vang. Kẻng cấm một. Nghĩa là kẻng điểm danh. Anh chăn bò là tù tự giác không phải đứng trong hàng cho cán bộ đếm, nhưng cũng phải về trại. Anh tù đứng lên:
- Xin phép cán bộ, tôi về.

Ông Thản nhìn theo anh tù một tay khoác bị cói, một tay xách cặp lồng đi khuất vào trong rừng.

Còn lại một mình ông. Rừng càng hoang vắng, im lặng. Ðã nom thấy sương dầy trên thảm lá mục, dưới những gốc cây. Sương hay hơi đất, hơi rừng bốc lên. Không một tiếng động. Chưa đến giờ thú đi ăn. Vậy cũng là chưa đến giờ thằng Dương mò ra khỏi ổ.

Ông Thản với tay nhặt những cành cây khô người tù chăn bò để lại cạnh đấy cho vào đống lửa. Ngọn lửa bùng lên. Khói bốc dầy hơn, quyện cùng sương. Ông nhìn lửa, nhìn sương, nhìn khói, nhìn rừng. Rồi ông gục đầu xuống hai cánh tay khoanh trên gối, nghe chiều sâu im lặng của rừng. Ông nghe lửa ấm quen thuộc trên da mặt. Lửa làm ông ấm áp cả trong lòng, giúp ông thấy mình không bị tách rời khỏi cuộc sống, tách rời khỏi gia đình, bố mẹ anh em đang ở một nơi nào xa lắm. Bởi vì lúc này ông nhìn thấy một cánh đồng mùa đông đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ. Mặc cho những con trâu gặm cỏ, ông và các bạn chăn trâu nhổ gốc rạ, đổ thành đống, đốt lửa. Khói bốc lên. Tất cả ngồi chung quanh. Khói tạt về phía nào, đứa ngồi ở phía đó lấy tay xua, miệng nói:

Khói về đằng kia ăn cơm với cá
Khói về đằng này lấy đá đập đầu.

Gục đầu trên cánh tay, ông nhìn rõ cảnh ấy.
Gục đầu trên cánh tay, ông im lặng chờ tiếng chân thú đi kiếm mồi.
Ðến lúc ấy, ông sẽ khoác súng đứng lên, đi sâu hơn  nữa vào trong rừng.

Tết Giáp Tuất

(1)   Nhà vệ sinh ngay trong phòng giam

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)