Giới thiệu

Ghé thăm các Blogs: 29/03/2012

Thứ Năm, ngày 29 tháng 3 năm 2012


BLOG ĐÀO TUẤN

Y học cổ truyền liệt lao, cùng với phong, cổ (cổ chướng), lại (ung thư) là “tứ chứng nan y”, là “thầy thuốc bỏ đi, trống kèn kéo tới”. Nhưng dù là bệnh gây tử vong hàng đầu trong các bệnh truyền nhiễm, từ những năm 80 của thế kỷ trước, đã có thuốc trụ sinh đặc biệt dành cho căn bệnh này và đặc biệt, bệnh lao có thể chữa khỏi hẳn. Nói theo cách “thành ngữ @”, bây giờ “chết vì lao là cái chết tào lao”.

Ấy vậy mà 3 ngày trước khi Bộ trưởng Bộ Y tế đăng đàn trả lời chất vấn, có một con số kinh hoàng liên quan đến căn bệnh này đã được đưa ra: 30.000 người chết mỗi năm. Bình quân 82 người chết mỗi ngày. Một tờ báo đã so sánh số người tử vong vì lao “bằng tai nạn giao thông và HIV/AIDS cộng lại”. Nếu nói tai nạn giao thông là quốc nạn, là sóng thần thì tử vong vì lao là quốc nạn của quốc nạn, là sóng thần của sóng thần.

Ấy vậy mà ở Việt Nam, theo điều tra dịch tễ từ cách đây 5 năm, tỷ lệ mắc lao phổi dương tính cao gấp 1,6 lần so với ước tính 90/100 ngàn dân của Tổ chức Y tế thế giới. Việt Nam cũng có tên trong cả 2 danh sách các nước có gánh nặng bệnh lao và gánh nặng lao đa kháng thuốc.

Ấy vậy mà khi mặc vest, cài ruy băng, thắt khăn đỏ, đứng trên nghị trường, bà Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ duy nhất một lần nhắc đến chữ “lao”. Nhưng đó là lời kêu khó về tình trạng khan hiếm nhân lực trong ngành lao, không kèm theo giải thích nguyên nhân.

Còn nhớ năm ngoái, PGS.TS Đinh Ngọc Sỹ, Chủ nhiệm chương trình chống Lao Quốc gia, TS Đinh Ngọc Sỹ chua chát bảo: “Cán bộ làm công tác chống lao đang “già đi” do không có người thay thế  trong khi bệnh lao lại đang “trẻ lại”.Tỷ lệ bác sĩ lao chỉ 1,58/100.000 dân, có lẽ còn ít hơn cả tỷ lệ bác sĩ pháp y. Cùng với các thần kinh, ngoại thần kinh, sản, tâm thần, lao cũng là một trong những chuyên khoa thiếu trầm trọng nhất. Và sự thiếu hụt này được TS Sỹ đánh giá “Chính là nguyên nhân sâu xa của việc chỉ có khoảng một nửa số bệnh nhân lao được phát hiện”.

Liệu có thể nào trong suốt 10 năm mà một bệnh viên lao- phổi không tuyển mới nổi một bác sĩ chuyên khoa?
Sự khan hiếm nhân lực trong ngành lao thực ra đã được kêu ca từ không mười cũng bảy năm trước. Nhưng trong từng đó năm, ngành y tế đã làm gì, ngoài chuyện kêu ca. Trước nghị trường, Bộ trưởng Bộ Y tế mười mấy lần nhắc đến hai chữ “kinh phí”, đã liệt kê ra vô số những nhóm giải pháp với giải pháp. Nhưng quanh đi quẩn lại toàn chỉ thấy chuyện “tiền”. Để có tiền, có nguồn thu, bà đã kê ra đến 5 gạch đầu dòng. Nhưng người dân nói chung và người bệnh nói riêng nghe đi, nghe lại cuối cùng vẫn chỉ là tiền hoặc trực tiếp từ các khoản thu “bổ đầu bệnh nhân”- được gọi là viện phí, hoặc gián tiếp qua ngân sách- thực ra cũng là thuế do người dân đóng góp.

Nếu như tỷ lệ giường bệnh ở Việt Nam, chỉ 20,5/1 vạn, một tình trạng mà báo chí gọi là “cá hộp” đang chỉ phản ánh mức độ “khốn khổ vật lý” thì tỷ lệ bác sĩ/1 vạn dân đang cho thấy cái “giá sinh mạng bình quân” đang quá rẻ mạt. Năm 2003, dưới thời Bộ trưởng Trần Thị Trung Chiến, các cuộc khảo sát cho thấy 1 vạn dân Việt Nam mới chỉ có được 5,88 bác sĩ và 0,7 dược sĩ. Trong suốt gần 10 năm qua, tỷ lệ này mới “nhúc nhích tí chút” với chưa đầy 7 bác sĩ/1 vạn dân. Tỷ lệ bình quân này không phản ánh chất lượng chăm sóc y tế khi hầu hết các bác sĩ đều đang ở các BV tỉnh, thành phố. Tỷ lệ “Bác sĩ làng”, chẳng hạn  như ở Đồng Tháp chỉ đạt 4,2/1 vạn dân. Lai Châu, tỷ lệ này thậm chí chỉ 3,3/1 vạn dân. Một tỷ lệ thấp vào loại nhất thế giới. Riêng chuyên khoa lao, chỉ có 1,5 bác sĩ/ 1 vạn dân, với một số lượng “đếm trên đầu ngón tay”, trong tình trạng “cứ 10 người dân có 4 người nhiễm lao”. Nếu không có một chính sách đúng, và kịp thời, bác sĩ lao ở Việt Nam, nói không ngoa- chẳng mấy mà tiệt chủng. Khi đó, những từ ngữ như “quốc nạn” hay “sóng thần” cũng không đủ để mô tả thảm họa do căn bệnh- 4 thập kỷ qua đã không còn là một trong “tứ chứng nan y”- gây ra.

Bởi vậy ngành y tế không thể chống lao chỉ bằng cách phát hành tem thư. Không thể “thanh toán bệnh lao vào năm 2030” chỉ bằng những lời kể khổ. Và rõ ràng viện phí, dù tăng thế, tăng nữa, tăng mãi, hoàn toàn không phải là lời giải, là phương thuốc cho căn bệnh nhân sự đang thiếu hụt trầm trọng của ngành y tế, đặc biệt là chuyên khoa lao.


BLOG QUÊ CHOA

Nếu ai muốn biết thế nào là vừa ăn cướp vừa la làng thì hãy  đọc bài VIỆT NAM MIỆT THỊ TRUNG QUỐC XÂM PHẠM “CHỦ QUYỀN” CỦA MÌNH Ở NAM HẢI LÀ ẨN CHỨA ĐỘNG CƠ ĐEN TỐI GÌ? (tại đây) của tác giả Trương Điện Thành đăng trên trang xilu.com.

Trong bài này, chỉ cần thay chữ “Việt Nam” bằng chữ “Trung Quốc” và ngược lại sẽ lộ nguyên hình ai là kẻ vừa ăn cướp vừa la làng. Xin trích đôi ba đoạn:
- “Việt Nam thèm muốn các đảo ở Nam Hải đã từ rất lâu, nhất là trong những năm phát hiện được nguồn tài nguyên sinh học và khoáng sản phong phú ở các đảo Nam Hải, Việt Nam lại càng mở rộng dã tâm lấy trộm các đảo ở Nam Hải của Trung Quốc. ViệtNam đã là nước được lợi nhất ở Biển Nam Trung Hoa lại còn xâm chiếm 28 đảo của Trung Quốc”.

- “Việt Nam thừa hiểu tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế nước mình, họ không phải là không biết quần đảo Nam Sa và quần đảo Tây Sa là sự thực lịch sử của Trung Quốc, mà trái lại, Việt Nam đã quá lo cộng đồng quốc tế thừa nhận sự thực này, nên mới cố tình kêu gào Trung Quốc hãy ngừng tiến vào vùng biển các quần đảo Nam Sa và Tây Sa, nhằm tạo ra hiệu quả gây sự mập mờ. Từ đó mà tạo sức ép dư luận với quốc tế về cái gọi là “chủ quyền Nam Hải”, nhằm giúp Việt Nam nhận được sự đồng tình và ủng hộ của một vài quốc gia trong cộng đồng quốc tế về việc giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh hải.”

- “Việt Nam là nước chiếm nhiều đảo san hô của Trung Quốc nhất, cùng với sự phát triển của Trung Quốc, đã tự thấy thời gian là bất lợi đối với họ, muốn làm cho các đảo chiếm giữ có được chủ quyền đã có thì về mặt thời gian phải càng sớm càng tốt, Việt Nam đương nhiên sẽ không đợi đến khi Trung Quốc thực sự lớn mạnh để khuấy động lại sự tranh chấp. Việt Nam phải rốt ráo tạo nên “sự đã rồi”, để kì vọng chiếm đoạt chủ quyền bằng tâm thái “gác lại tranh chấp” của Trung Quốc.”

Mẹ khỉ, trâng tráo bỉ ổi hết chỗ nói.

Báo Đại Đoàn Kết với bài Ngang nhiên lặp lại hành vi bất chấp luật pháp và đạo lý (tại đây) đã khẳng định không sai chút nào: “Không nghi ngờ gì: Đối với Trung Quốc thì lời nói không (hoặc chưa bao giờ) đi đôi với việc làm. Cách hành xử của họ không thể được coi là cách hành xử của một “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt”. Vậy thì dư luận không thể không đặt câu hỏi: Liệu họ có thể là một “đối tác tốt”? Tin rằng, cộng đồng quốc tế sẽ tự tìm cho mình câu trả lời thông qua hành xử kiểu “vừa ăn cướp, vừa la làng” của Trung Quốc ở biển Đông thời gian gần đây”.

Trong bài BỘ MẶT THẬT CỦA NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO TRUNG QUỐC  ( tại đây!) Bác Dương Danh Dy đã nói: “…ngay đến Khorutsov, nhân vật nổi tiếng một thời của Liên Xô cũ đã phải cay đắng thốt lên: “chỉ có những thằng ngu mới tin được Trung Quốc”.

Vậy tại sao ta vẫn phải “đồng chí 4 tốt” với họ nhỉ? Có tin người ta mới “đồng chí 4 tốt” với người ta chứ  sao.
Ủa, không lẽ chúng ta là một lũ ngu?


BLOG PHAN MINH NGỌC

utm_source=feedburner&utm_medium=feed&utm_campaign=Feed%3A+blogspot%2FpM
Bài này tớ viết hồi tháng 8 năm 2010 thì phải, để trên blog cũ. Chắc vì nó và một số bài khác tương tự nên cái blog vô tội của tớ bị các đồng chí hacker mũ đen hay mũ đỏ tớ cũng chẳng biết nữa chiếm làm của riêng. Nay bác Bình được ra hầu tòa, tớ chợt nhớ ra bài này nên tìm và post lên đây cho bà con đọc chơi. Bài có tiêu đề như một tiếng khóc đưa ma.

---------------------------

Vinashin ơi, hỡi Vinashin – chả trách!

Đọc bài “Cựu chủ tịch Vinashin Phạm Thanh Bình: “Do bung ra không đúnglúc...” trên Pháp luật & Đời sống mà cứ phải than trời về cái đầu, cái tầm, cái trình độ tư duy của một ông Tổng và những chuyện xung quanh chúng, để rồi phải thốt lên rằng với những người như ông Tổng này, và cả những ai đằng sau ông ấy thì Vinashin không phá sản mới là lạ!

Trả lời câu hỏi của phóng viên, “nghĩ sao mà lại mua tàu Hoa Sen hơn ngàn tỷ rồi nay đắp chiếu?”, ông Bình đáp rằng: “Mua tàu Hoa Sen xuất phát từ chủ trương đầu tư một đội tàu biển cao tốc Bắc-Nam. Nếu đầu tư đường sắt cao tốc hoặc đường bộ Bắc-Nam thì phải mất hàng chục tỷ USD, thời gian mất hàng chục năm, khó đảm bảo an toàn khi bão lũ, tai nạn giao thông... Trong khi đó, đầu tư đội tàu chỉ hết khoảng 2 tỷ USD, hoàn thành trong vòng 3-5 năm và cần khoảng tám con tàu như Hoa Sen, 3-4 cảng, chi phí sẽ rẻ hơn vận chuyển trên bộ, không bị mưa lũ...”. Thật kỳ lạ khi ông đi so sánh vận tải thủy (thường để chở hàng hóa) với đường sắt cao tốc (chỉ chở được người), và cho rằng vận chuyển trên bộ sẽ chịu ảnh hưởng của mưa lũ, nhưng lại lờ đi chuyện vận tải đường biển sẽ bị ảnh hưởng của gió bão.

Ông còn kể ra những nguyên nhân làm cho chủ trương này phá sản: “Nhưng không may là mới chỉ mua một chiếc đã gặp thời điểm khủng hoảng, phía Trung Quốc đóng cửa khẩu, xe hàng trong nước chưa quen đi đường biển, mà chúng tôi chỉ chở xe lớn nên ít khách. Chạy thêm được một tháng thì thấy lỗ quá, phải dừng lại”. Trung Quốc chắc đã mở cửa khẩu lại (nếu quả thật có đóng) nhưng chắc ông Bình vẫn không thấy có khách từ Trung Quốc? “Xe hàng trong nước chưa quen đi đường biển” mà ông vẫn nhắm mắt cho mua tàu, chứng tỏ ông và bộ sậu của ông không hề làm, không hề có khái niệm gì về điều tra thị trường khi xây dựng một dự án kinh doanh nào đó. Cái việc “chỉ chở xe lớn nên ít khách” càng chứng tỏ nhận định này.

Khi được hỏi về phương hướng xử lý con tàu này, ông tự tin “Đã có hướng xử lý”. Đang phân vân không biết ông xử lý kiểu gì, thì ông nhấn mạnh “kiểu gì mình cũng phải phát triển. Mình chỉ cố chịu đựng thêm một thời gian nữa”. À, hóa ra là xử lý kiểu chịu đựng (tức cứ để nó nằm chịu lỗ ở đó), rồi tiếp tục mua thêm một vài con tàu cao tốc kiểu như vậy. Ông còn “tiết lộ” thêm: “Quan điểm của Chính phủ là vẫn phải phát triển đường cao tốc trên biển. Đến thời điểm nào thì do thị trường nhưng mình phải chuẩn bị trước”. Hóa ra chủ trương đầu tư mua tầu Hoa Sen và những con tàu tương tự không phải là do ông Bình nghĩ ra, mà ông chỉ là người thực hiện, nên chúng ta lâu nay vẫn chỉ trích sai người! Từ chi tiết này, có lẽ phải kêu gọi dư luận có cái nhìn nhân ái hơn với ông Bình, ít nhất trong chuyện mua tàu rồi để nằm chơi, vì ông Bình không phải là tội đồ duy nhất, và cũng không phải là người khởi xướng.

Nhưng nói gì thì nói, vẫn không thể không tức khi nghe ông chống chế với phóng viên khi bị vặn rằng liệu tàu Hoa Sen chỉ là một cái xà lan được hoán cải. Ông cho biết: “Sai hoàn toàn. Đây là một tàu khách hiện đại, tiện nghi như tàu du lịch khách sạn năm sao. Trên thế giới ít có tàu như vậy”. Câu này chỉ làm cho người ta thấy ông không những nói câu sau “đá” câu trước, khi bên trên ông đổ tại rằng tàu chỉ để chở xe (tải) lớn nên ít khách, mà còn thấy ông (và những người có trách nhiệm trên ông cho duyệt phương án mua tàu, nếu có) rất “chịu chơi” và “sáng tạo”. Tại sao không những là tàu chở khách, mà còn “hiện đại” mà ông lại mang ra để chở xe tải? Tại sao thế giới ít dùng (vì có ít tàu như vậy) mà ông lại “sáng tạo, đi tắt đón đầu”, bê về dùng để chở xe tải ở Việt Nam?

Khi biện minh cho vấn đề đầu tư dàn trải, ông chỉ nhận là “Dàn trải ở đây là dàn trải nhà máy đóng tàu chứ không phải ngành khác”, rồi lập luận “Khi trong tay tôi đã có cả mớ hợp đồng đóng tàu trị giá tới 17 tỷ USD mà tôi không đầu tư thì làm sao đáp ứng được nhu cầu của khách hàng”. Ông quả là có cái lối tư duy như của mấy tay tội phạm lừa đảo kinh tế, khi trong tay chỉ có chút tiền và năng lực chỉ có chút xíu nhưng bằng cách nào đó làm cho đối tác tin tưởng rằng ông là đại gia, có thể làm được những việc cực lớn, nên dễ dàng huy động được một lượng đặt hàng lên tới 17 tỷ USD đảm bảo đủ việc làm cho Tập đoàn cả vài năm trời. Cái gì xui khiến ông “có ít xít ra nhiều” và chạy theo con số để rồi phải ra sức mở rộng đầu tư như vậy? Có lẽ một trong những lý do là bầu sữa của Chính phủ tưởng vô tận trong mắt ông, minh chứng qua việc ông sẵn sàng “kể cả đề nghị Chính phủ hỗ trợ tiếp”.

Ông còn cố tình loanh quanh khi bào chữa rằng “Số tôi không gặp may. Ký xong hợp đồng thì xảy ra khủng hoảng kinh tế. Nhiều đối tác chấp nhận bỏ tiền cọc, hủy hợp đồng. Vốn liếng mình cũng bị kém đi, nhiều dự án không thực hiện được”. Ai cũng hiểu rằng khi đối tác chấp nhận bỏ tiền đặt cọc, hủy hợp đồng thì về nguyên tắc Vinashin chẳng bị thiệt hại gì, thậm chí còn có lợi, vì tiền đặt cọc và tiền thanh toán là để cho từng công đoạn hoàn thành sản phẩm, nên Vinashin cho dù có bị hủy hợp đồng thì cũng chỉ có một phần công việc phải bị dang dở, nhưng quan trọng hơn là phần việc đó vẫn đã được thanh toán hoặc có tiền đặt cọc đảm bảo.

Nực cười hơn nữa là chuyện ông cho biết tỷ số nợ trên vốn của Vinashin chỉ vào khoảng trên 4 lần (thực tế là trên 11 lần). Tôi không cho rằng ông cố tình nói sai vì chuyện này quá quan trọng và có thể dễ dàng kiểm chứng. Tôi tin rằng ông nghĩ tỷ số này đúng là như vậy. Vậy suy ra điều gì? Ông Bình là Tổng Giám đốc mà hoàn toàn mù tịt về tình hình tài chính của tổ chức của mình! Chắc vì thế mà ông cứ thỏa sức đầu tư, thỏa sức vay mượn, vì (chắc là) cho rằng nợ của Vinashin vẫn còn thấp chán, chẳng có gì đáng lo!

Tương tự vậy, ông phủ nhận ý kiến của phóng viên cho rằng nợ quá hạn của Vinashin đã lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Ông chỉ biết đến mỗi khoản nợ 750 triệu đôla, nhưng lại cho rằng đây là nợ dài hạn, và Vinashin chắc chắn trả nợ được vì “Tới đây, các nhà máy đều đi vào sản xuất, làm ra rất nhiều tiền”. Thưa ông, cứ cho là các nhà máy ông đang đầu tư sẽ có đủ tiền để hoàn thành, đủ hoàn chỉnh để đi vào sản xuất được, nhưng xin hỏi ông một câu đơn giản là khách hàng ở đâu để ông trông mong người ta sẽ đặt hàng đóng tầu ở Vinashin và mang lại rất nhiều tiền cho Vinashin? Hay ông tin rằng những khách hàng đã hủy hợp đồng trước đây nay sẽ quay lại và ngành đóng tàu vẫn ở thời hoàng kim của nó khi các đơn đặt hàng dồn dập đến các nhà máy đóng tàu trên thế giới vượt quá công suất của họ mà nhờ đó Vinashin – với tư cách là kẻ sinh sau đẻ muộn, chẳng có tên tuổi và uy tín gì (xin đừng ảo tưởng ở chỗ này!) sẽ được hưởng “sái” lây? Và “tới đây... làm ra rất nhiều tiền” là thời điểm nào vậy? Hy vọng nó không phải là sau dăm năm nữa, “mưa lắm cũng phải nắng” như lối tư duy “giản dị” của ông. Mà lúc đó thì tiền trả lãi và vốn của Vinashin biến thành nợ quá hạn đã lên đến con số khổng lồ rồi, sao mà còn để ông tự tin rằng nợ quá hạn không đáng kể và chắc chắn sẽ trả được nợ?

Tóm lại, có lẽ phẩm chất duy nhất của ông Tổng Bình là liều và “giản dị”, “ngây thơ” trong tư duy và kiến thức quản lý, kinh doanh, lại được hậu thuẫn bởi một cái chống cực chắc, nên ông cứ thả sức tung hoành và chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi con tàu Vinashin được ông trực tiếp chèo lái cặp bến kết cục như hiện nay.


BLOG NGUYỄN TRỌNG TẠO

Vừa qua, Bộ GTVT đưa ra đề xuất giải quyết vấn nạn giao thông bằng cách “thu phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân và phí ô tô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm” đã làm dấy lên sự phẫn uất của dư luận. Có người còn gọi đó là “Phí Anh Thăng”.


Hôm kia, PGS.TS Nguyễn Văn Thụ - người có mấy chục năm giảng dạy, nghiên cứu về giao thông, tham gia lập nhiều dự án giao thông cho các đô thị ở Việt Nam – lên tiếng cá cược với dư luận: “Thu phí mà giảm được kẹt xe tôi sẽ đi tù!”.

Hôm qua, GS. Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường  - hài hước: “Chúng ta không thể chống ùn tắc bằng cách hạn chế ô tô. Nếu làm vậy, chẳng khác nào chúng ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội bằng cách… đi bộ”.

Và hôm nay, ca sĩ Mỹ Linh bức xúc: “Đề xuất giải pháp đó, theo tôi, chứng tỏ anh Đinh La Thăng quá kém cỏi!”.

Vân vân và vân vân…

Chưa thấy bộ trưởng nào mới một thời gian ngắn chấp chính mà đưa ra nhiều giải pháp bị vô hiệu hóa như bộ trưởng GTVT.

Đầu tiên, anh Thăng đưa ra việc “đi làm bằng xe Bus”, anh đi thử và khẳng định “Tốt”. Nhưng chỉ vài tuần sau, anh lại nói: “Đến tôi cũng không thể đi làm bằng xe Bus được”. Tiếp theo là sáng kiến thay đổi giờ làm giờ học khiến cả thành phố Hà Nội nháo nhác, thầy lạc trò, mẹ lạc con… rồi “tùy theo thực tế của từng trường”, rốt cuộc, giao thông vẫn tắc nghẹn, đâu lại vào đấy. Và bây giờ là đề xuất thu phí ô tô, xe máy, cấm vào cấm đỗ… chưa biết kết quả ra sao, nhưng đã thấy loạn cả lên. Ngành cơ khí ô tô kêu chết. Chủ xe kêu bị móc túi. Những anh chàng nghèo mua xe thanh lý đi làm kiếm sống qua ngày bỗng rơi vào đường quẫn.

Đó là anh láng giềng cạnh nhà tôi mua được cái xe cũ 50 triệu, giờ mỗi năm phải nộp phí 50 triệu thì anh phải nộp cả cái xe ấy cho anh Thăng cũng không đủ.

Chợt nhớ bài Á Tế Á Ca của Cụ Phan đầu thế kỷ trước:
Các thức thuế các làng thêm mãi,
Hết đinh điền rồi lại trâu bò.
Thuế chó cũi, thuế lợn gà,
Thuế diêm, thuế tửu, thuế đò, thuế xe.
Thuế các chợ, thuế trà, thuế thuốc,
Thuế môn bài, thuế nước, thuế đèn.
Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền,
Thuế rừng tre gỗ, thuế thuyền bán buôn.
Thuế gò, thuế bãi, thuế cồn,
Thuế người chức sắc, thuế con hát đàn.
Thuế dầu mật, thuế đàn đĩ thoã,
Thuế gạo rau, thuế lúa, thuế bông.
Thuế tơ, thuế sắt, thuế đồng,
Thuế chim, thuế cá, khắp trong lưỡng kì.
Các thức thuế kể chi cho xiết,
Thuế xia kia mới thật lạ lùng,
Làm cho thập thất cửu trùng,
Làm cho xơ xác, khốn cùng chưa thôi…

Đầu thế kỷ này lại thêm “phí anh Thăng”. Chả biết có thành hiện thực hay lại chuyện tào lao? Chả lẽ “Phí anh Thăng lên cung trăng hỏi Cuội”?


BLOG BS NGỌC

Hai chữ “thể chế” đang trở thành một danh từ thời thượng. Những bất cập, những tiêu cực, suy thoái trong kinh tế, suy đồi đạo đức … đều là những vấn đề mang thể chế. Nhưng thể chế là ai? Dường như ai cũng biết nhưng không nói ra.

Bây giờ đi đâu cũng nghe người ta nói đến “thể chế”. Những buổi liên hoan cuối năm, những buổi họp, những trao đổi quanh bàn cà phê, thậm chí trên bàn nhậu, người ta bàn đến thể chế. Nói chính xác hơn là “vấn đề thể chế”. Nói ngược lại, thể chế có vấn đề. Vấn đề thể chế có thể giải thích được tại sao đất nước này đang trong thời kỳ suy thoái nghiêm trọng.

Trước hết, chúng ta hãy điểm qua những vấn đề mà dư luận xã hội và giới trí thức đánh giá là suy thoái.

Chúng ta đang chứng kiến một thời kỳ nhiễu nhương, tao loạn. Người dân cảm thấy bất an khi ra ngoài đường, thậm chí cảm thấy bất an ngay trong nhà mình. Trộm cướp nổi lên như rươi. Chúng càng ngày càng táo tợn và dã man. Những cảnh chận xe giữa đường để cướp giựt xảy ra hầu như hàng ngày ở các thành phố lớn. Báo chí cho biết nạn cướp cũng rất phổ biến ở các vùng nông thôn vốn từng là những nơi an bình. Có thể nói rằng không nơi nào trên đất nước này là an bình. Không an bình vì những người đáng lý ra bảo vệ an ninh lại chính là những kẻ cướp. Lực lượng an ninh mà cũng cướp bóc! Công an cướp tiền người dân ngay giữa ban ngày, hơn cả cướp cạn như một bài báo bức xúc viết “Ghê hơn cướp cạn”.

Không chỉ công an mà các quan chức cũng ăn cướp. Đi bất cứ cơ quan công quyền nào người dân cũng phải “bôi trơn”. Người dân nói hay hơn: ăn. Ăn ở đây là ăn cướp. Hành vi ăn cướp của họ được núp dưới những cái tên mang tính hành chánh. Ai cũng ăn. Ăn hối lộ. Cán bộ lớn ăn lớn, cán bộ nhỏ ăn nhỏ. Bởi thế mà người ta có câu vè:
Ai ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

Vì ăn quá nên họ làm giàu nhanh. Làm giàu không dựa vào mồ hôi nước mắt của mình nên họ tiêu tiền như nước. Họ gởi con em ra nước ngoài học, nhưng họ bảo con em người dân nuôi họ nên học ở trong nước. Họ thừa tiền nên bày ra những cảnh xa xỉ lố lăng, không hề biết tự trọng là gì.

Không phải vô cớ mà mới đây người đứng đầu Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng nhận định rằng một số không nhỏ đảng viên cấp cao có vấn đề về đạo đức. Nói thẳng hơn là suy đồi đạo đức. Những hành vi tham nhũng, hối lộ, mua chức quyền, mua bằng cấp không còn là chuyện bí mật nữa. Ai cũng biết ngay từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất, các cán bộ của chính quyền có được chức quyền là nhờ mua bán chứ không phải do tài năng. Ai cũng biết bằng cấp thật của họ thực chất là dỏm. Thật là trớ trêu cho một hệ thống giáo dục cấp bằng thật nhưng học giả. Điều khôi hài nhất là cũng chính những người này hàng ngày đang rao giảng về đạo đức!

Một xã hội không có người gương mẫu thì đừng trách sao cả xã hội đang suy đồi.

Những quan chức chính quyền và Đảng CSVN đang hành xử như là những ông quan thời thực dân mà chính họ hoặc cha ông họ đã đổ xương máu để giành quyền cai trị. Đi khắp đất nước, những khu đất đẹp, những tài sản kếch xù, những tập đoàn xuyên các quốc gia, những căn biệt thự hoành tráng … là của ai? Của các quan, đảng viên đảng CSVN. Cha ông họ ra sức đánh đổ chế độ thực dân kiểu cũ, chế độ thức kiểu mới, để dựng lên một chế độ thực dân kiểu cộng sản.

Những ông quan thực dân kiểu cộng sản đã cướp công lý và tạo nên nhiều tội ác. Cải cách ruộng đất và Huế tết Mậu Thân là chuyện cũ. Chuyện ngày nay là người dân bị cướp đoạt công lý. Một thiếu nữ tát vào cái nón của công an lãnh 6 tháng tù. Trong khi đó công an dùng nhục hình với người dân vô tội thì được hướng án treo. Công an giết người thì sự việc hoặc là bị “chìm xuồng” hoặc là xử nhẹ và … lên chức. Tướng công an có công trong việc chống tham nhũng thì bị đày đoạ và trù dập. Nói tóm lại, trong xã hội hiện nay ác lấn thiện. Trong xã hội nhiễu nhương như thế thì người lương thiện và chân chính là những người được xem là “bất bình thường”.

Và dối trá. Chưa bao giờ lịch sử Việt Nam có nạn dối trá như hiện nay. Trên khắp đất nước mà tìm cái thật từ câu nói của các quan thì bao giờ có được. Quan chức nói dối. Trí thức sống hai mặt. Khoa học chỉ thấy dối trá. Giáo dục dối trá. Thật là một xã hội quái đản.

Đất nước này không có tương lai. Thử hỏi chế độ hiện hành để lại gì cho thế hệ mai sau. Nói đến tài nguyên thì đã cạn. Có còn chăng chỉ là đống nợ nước ngoài và những con người như ông bộ trưởng Thăng.

Nhưng thể chế là gì mà có thể giải thích cho tình trạng trên? Từ điển Tiếng Việt định nghĩa thể chế như sau:  “Những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo”.  Ở đất nước này ai là người đặt ra những quy định, luật lệ? Đảng CSVN. Chính họ đặt ra luật lệ. Chính họ đẻ ra chính quyền. Chính họ lập ra toà án để xử những người “vi phạm luật pháp”. Chính họ bổ nhiệm quan toà. Tất cả đều là đảng CSVN.

Vậy nên nói thể chế là nói đến đảng CSVN.


Blog Viết Từ Sài Gòn

Hại… nhân dân!

Nhìn cách mà nhà cầm quyền Việt Nam ứng xử với việc nứt đập thủy điện Sông Tranh 2 và thờ ơ trước lời khẩn cầu của người Chăm trước việc dừng xây dựng nhà máy điện hạt nhân thì đủ thấy sự vô cảm và quyết hại nhân dân là như thế nào.

Cái tâm lý “thà hi sinh tất cả” trong thời chiến vẫn còn hiển hiện trong đầu óc của nhà cầm quyền cấp cao, nên với họ, 40 ngàn nhân khẩu của huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) và hàng nghìn gia đình ở các huyện Tiên Phước, Hiệp Đức, Thăng Bình, Nông Sơn… nơi có dòng Sông Tranh 2 chảy qua, có bị trôi đi, có hề gì. Bởi công trình mà họ xây dựng và muốn nhìn nó như “đỉnh cao muôn trượng”, thành tích đó sao có thể bị đổ sông đổ biển bởi tiếng khóc, sự lo lắng của người dân, dù thực tế, rất có thể nó sẽ bị chảy đổ nếu đập lở. Khu vực này cũng có nguy cơ bị động đất, vì đã từng như thế.

Khi mùa mưa bão bắt đầu, Việt Nam không cần đọc lại Giông tố hay Vỡ đê của các cây bút phê phán cách đây gần thế kỷ, mà sẽ mục kích “đại vỡ đê” thời hiện tại.

Cũng như người Chăm, theo điều tra dân số của người Pháp hồi đầu thế kỷ 20 thì họ có khoảng 1 triệu người tại Việt Nam. Hiện nay, nếu tính hết số người Chăm cư ngụ tại Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Thái Lan và Hoa Kỳ thì họ có khoảng 400 ngàn. Riêng tại Việt Nam, theo Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam, năm 2008 họ có khoảng hơn 145 ngàn người, xếp thứ 14. Nhà máy điện hạt nhân xây dựng, nếu gặp sự cố, thì chắc chắn “sẽ giúp” giảm bớt số người Chăm đáng kể, bởi khu vực Ninh Thuận - Bình Thuận họ có gần 100 ngàn người (Ninh Thuận hơn 66 ngàn, Bình Thuận hơn 32 ngàn, chiếm khoảng 68% tổng số người Chăm ở Việt Nam).

Theo kiến nghị hoãn phê chuẩn Hiệp định ACTA (Anti-Counterfeiting Trade Agreement), thì giữa năm 2011, quốc hội nước Đức đã buộc 8 nhà máy điện hạt nhân ngừng hoạt động, 9 nhà máy còn lại phải đóng cửa chậm nhất đến năm 2022. Vậy thì Việt Nam tại sao lại thích xây dựng nhà máy này? Đành rằng năng lượng là chuyện cấp thiết, nhưng với những nước theo đuôi về khoa học như Việt Nam, việc tỉnh táo theo dõi diễn tiến chung về nguy cơ khoa học cũng quan trọng như việc vội vàng biến đất nước thành các bãi rác công nghệ thứ cấp của nhân loại. Thử hình dung mà xem, trong bối cảnh nhà máy điện hạt nhân đang là nguy cơ của toàn thế giới, tự nhiên có một công ty bán được cho Việt Nam một nhà máy, thu về bộn tiền, thì họ mừng vui cỡ nào. Bởi không bán cho những nước hám bệnh thành tích, thích đi tắt đón đầu như Việt Nam thì biết bán cho ai đây?

Theo ông Trần Sơn Lâm, nguyên Trưởng phòng Phân tích đồng vị - Địa niên biểu hạt nhân, Giám đốc Trung tâm Chuyển giao công nghệ - Viện Địa chất và Khoáng sản Bộ Công nghiệp thì: “Để xây dựng nhà máy điện hạt nhân có công suất 1.000 MW, dự kiến kinh phí ta phải vay theo lãi suất thương mại là trên dưới 5 tỷ đô-la Mỹ (theo quy định của quốc tế không dùng vốn ODA để xây dựng nhà máy điện hạt nhân). Với lãi suất trên dưới 3%/năm, sau khi tiếp nhận, nếu xảy ra một sự cố cần khắc phục và phải thay thế một cụm chi tiết nào đấy phải dừng hoạt động, tính toán cho thấy một tháng ta cũng phải trả lãi cho khoản vay trên khoảng 12,5 triệu đô-la Mỹ chưa kể phải trả tiền lương cho công nhân và chuyên gia để bảo hành và duy trì nhà máy”.

Với số tiền như ông này nói thì cũng không khác chi dự án khai thác bô-xít, trên giấy tờ thì tưởng dễ ăn, có lãi, nhưng càng đi sâu vào thực tế khai thác thì Việt Nam càng nặng nợ ngân hàng, nặng nợ môi trường và gây tội ác với nhân dân.

Cũng ông này nói thêm: “Theo tính toán của các nhà khoa học, trữ lượng của các mỏ urani trên thế giới cũng đang cạn kiệt dần và chỉ đủ dùng cho các nhà máy điện hạt nhân trong vòng 50-60 năm nữa nếu không tái tạo được nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng. […] Một kịch bản là nếu ta chưa đủ khả năng vận hành nhà máy kể từ thời điểm ‘chìa khóa trao tay’, ta phải thuê tối thiểu khoảng từ 700-1.000 cán bộ kỹ thuật, lương bình quân của mỗi người là 7.000 đô-la Mỹ thì tổng tiền lương phải chi trả hàng tháng sẽ là 4,9-7 triệu đô-la Mỹ, việc này sẽ đưa giá thành điện lên rất cao”.

Có lẽ Việt Nam không xây dựng nhà máy điện hạt nhân vì lợi ích kinh tế, mà chủ yếu là để phô trương cái thanh thế hão, chạy theo thành tích ảo. Cũng giống việc xây dựng đường dây 500kv Bắc - Nam để khắc phục sự thiếu điện ở miền Trung và miền Nam trước đây, thế nhưng, khi vừa đi vào hoạt động thì điện lại tiếp tục thiếu, vì họ quên tính nhu cầu sẽ chạy theo khả năng cung cấp. Khi nhà nhà thiếu điện thì người dân không trông chờ vào điện, khi tạm đủ điện thì nhu cầu thật mới thể hiện, thành ra thiếu nghiêm trọng hơn. Đó là chưa nói chi phí bảo trì đường dây này hàng năm còn bị lên án là nhiều gấp 2 lần tiền bán điện!? Hệ lụy và nợ nần nay ai chịu, tất nhiên người dân chứ không thể là công ty điện lực.

Cắt nghĩa lý do tại sao nhà cầm quyền Việt Nam liên tục thích hại dân thì thật khó trả lời trong một bài viết ngắn, của một người. Nhưng có lẽ nổi trội nhất là nguyên do bởi họ “ngu và liều”, mà nói như phương ngữ ngày nay: “nhiệt tình cộng dốt nát thành ra phá hoại”.

Nhà cầm quyền Việt Nam vốn có xuất thân thấp và đến nay cũng chưa mấy được cải thiện, ấy là một thực tế hiển nhiên, không cần chứng minh. Khi nhà cầm quyền (tạm gọi với từ) “ngu” thì họ có muốn người dân của mình “khôn” hay không, chắc không hoặc rất khó, vì dân “khôn” làm sao cai trị. Nên về giáo dục, mấy chục năm qua họ rất kiên trì với chìa khóa “ngu dân”, dân biết chữ mà không biết nghĩa, hoặc không hành xử theo nghĩa tốt đẹp của chữ. Người Việt có tố chất để học trở thành khôn ngoan, được việc, cứ nhìn ra các môi trường giáo dục quốc tế thì sẽ thấy, ở đó người Việt rất khá, nhưng ở Việt Nam thì trì trệ, vì đó là chủ trương và chính sách.

Chính sách ngu dân trong giáo dục - nơi hiện có khoảng 25 triệu người đi học - sẽ rất hiệu quả khi đi song song với sự toàn trị và độc quyền. Quyền lợi của quốc gia không còn là chuyện của nhân dân, mà chỉ là của một nhóm nhỏ quyền lợi nơi đảng cầm quyền.

Vì bị “ngu dân” nên không biết quyền của mình; vì đói nghèo phải lo ăn từng bữa… nên khó lo nghĩ xa, người dân như quẩn quanh trong vỏ ốc đói nghèo của mình. Rõ ràng, ngoài nỗi lo sợ vỡ đập, 40 ngàn hộ dân ở Bắc Trà My chẳng biết phải đấu tranh như thế nào, biểu tình bày tỏ ý kiến cũng không. 100 ngàn người Chăm thì càng khó hơn, khi họ bị xếp vào vấn đề dân tộc thiểu số, sự trả thù của nhà cầm quyền càng dã man hơn. Nên chỉ còn mỗi nỗi sợ.

Cho nên, với những người ở bên ngoài Việt Nam, họ sẽ không hiểu tại sao nhà cầm quyền ít ỏi và có trình độ hạn chế như thế mà vẫn làm hại gần 90 triệu dân. Trong khi thực tế trong nước cho thấy chuyện này không khó ắt nghĩa, vì từ mấy thập nhiên trước, nhà cầm quyền đã có chủ trương ngu dân hóa 100% nên cố tình đưa ra các phương cách giáo dục kinh khủng, không chịu sửa đổi theo hướng tiến bộ, khoa học. Không phải nhà cầm quyền không biết giáo dục của mình đang sai phương pháp và không phải họ thiếu cách để sửa, mà cố tình không sửa, vì sợ ảnh hưởng đến quyền lợi độc quyền của mình. Với họ, dân khôn thiệt là hiểm nguy.

Cho nên, với những sự cố như nứt đập Sông Tranh 2, xây dựng nhà máy điện hạt nhân, hay cướp đất ở Tiên Lãng… ta đừng vội cho đó là đỉnh điểm của băng hoại, bởi cao hơn cả và thăng chốt hơn cả là tư tưởng hại nhân dân của nhà cầm quyền. Như một sự “cộng nghiệp”, nếu người dân không ý thức về sự tự thay đổi mình thì chắc chắn những hiện tượng bề nổi như vừa nêu không thuyên giảm, và viễn ảnh bị đọa đày chung thì chỉ còn ở thì tương lai gần.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu