Nguyễn Hưng Quốc - Thăm Thái Lan

Nguyễn Hưng Quốc

Quảng trường Siam, khu vực giải trí và mua sắm ở quận Pathumwan của thủ đô Bangkok, Thái Lan
Không về Việt Nam được, kỳ nghỉ hè này (1), tôi đi Thái Lan cho... đỡ nhớ nhà.


Quảng trường Siam, khu vực giải trí và mua sắm
ở quận Pathumwan của thủ đô Bangkok, Thái Lan
Ra khỏi máy bay, bước vào phòng trình hộ chiếu, lại thấy những gương mặt nhân viên cửa khẩu lạnh lùng không hề cười với khách. Lạ, Thái Lan nổi tiếng là mảnh đất của nụ cười (land of smiles), vậy mà nhân viên cửa khẩu, những người đại diện đầu tiên cho đất nước tiếp xúc với khách quốc tế lại mang những bộ mặt công chức rất vô cảm. Trong khi đứng chờ, tôi nhìn quanh: người nào cũng thế. Cũng làm việc như một cái máy, cắm cúi với chiếc computer trước mặt. Không chào. Không hỏi. Và không cười. Thậm chí, cũng không ngước lên nhìn khách. Đúng hơn, họ nhìn mặt khách trên màn ảnh computer được nối với một ống kính gắn sẵn trên bàn. Nhìn họ, tôi nhớ đến Việt Nam. Chỉ khác ở Việt Nam một điểm: họ không chứng tỏ quyền uy. Họ chỉ muốn đóng vai một công chức chăm chỉ và nhanh nhẹn dù phải hy sinh một chút thân thiện. Vậy thôi.

Bước ra khỏi phi trường, dù mới 7 giờ sáng, đã thấy cái không khí hầm hập ập vào người, như muốn vắt kiệt mồ hôi của mình. Như ở Sài Gòn. Xe chạy được một hai phút, ở ngay đầu xa lộ vào thành phố, đã thấy một chiếc cổng lớn với hàng chữ viết bằng tiếng Anh “Long live the king” (Hoàng đế vạn tuế). Giống hệt câu “Hồ Chủ tịch muôn năm” ở Việt Nam. Sau này, đi nhiều địa điểm ở Bangkok, tôi thấy cái khẩu hiệu ấy xuất hiện hầu như ở khắp nơi. Ngoài đường. Trong công sở. Ở cả một số trung tâm thương mại. Và trên... internet. Ở phi trường, muốn dùng Wi-Fi để vào internet, trên trang đánh tên người sử dụng và mật mã, có hình của vua và câu “Long live the king” nằm chình ình trước mặt.

Là một nước đang phát triển, Thái Lan cũng có cái vẻ gì bừa bộn ngổn ngang. Như Việt Nam. Hệ thống xa lộ khá tốt. Chằng chịt. Chắc chắn là tốt hơn Việt Nam rất nhiều. Nhưng nhìn hai bên đường bê tông cốt sắt đồ sộ và hiện đại, lại thấy những dãy nhà lụp xụp tồi tàn bên cạnh những hàng cây, phần nhiều là dừa, chuối và cây dại còi cọc, quặt quẹo, khô cằn. Như Việt Nam. Ngay cả ở những khu phố lớn cũng vậy. Bên cạnh những toà building nguy nga và lộng lẫy là những khu nhà cũ kỹ, lở lói hoặc những dãy hàng quán lởm chởm được che bằng những mảnh ny lông hay vải bạt tạm bợ nhem nhuốc, ở đó, những người bán hàng, nếu không có khách, thường ngồi ăn uống xì xụp hoặc ngủ gà ngủ gật. Trong cái gọi là bừa-bộn-ngổn-ngang, khoảng cách giữa các cực đối lập ở Thái Lan lớn hơn ở Việt Nam: Về độ phát triển đô thị, Thái Lan phát triển sớm và nhanh hơn Việt Nam; nhưng dấu vết của đời sống tiền-đô thị ở Thái Lan lại còn nhiều hơn ở Việt Nam.

Một trong những dấu vết tiền-đô thị ấy là văn hoá ẩm thực ngoài đường (street food). Ngoài đường chứ không phải trong tiệm. Cái gọi là ngoài đường này có hai mức độ: nửa ngoài đường (nơi chế biến thức ăn nằm trong nhà nhưng khách thì ngồi dọc theo lề đường) và hoàn toàn ngoài đường (cả chủ lẫn khách, cả nơi chế biến lẫn nơi tiêu thụ đều nằm hẳn ngoài đường). Ở Việt Nam, trong khi hình thức nửa ngoài đường vẫn còn tiếp tục; hình thức hoàn toàn ngoài đường thì rõ ràng càng ngày càng giảm: Họ là đối tượng xua đuổi của công an. Ở Bangkok, ngược lại, hình thức thứ hai vẫn còn nhiều. Ở đâu cũng thấy những người đẩy xe bán hoặc trái cây tươi (tôi thấy nhiều nhất là xoài, măng cụt, bòn bon và thanh long) hoặc các loại đồ nướng (chuối, bắp, mực và ốc), v.v... Tôi để ý thấy khách ăn hàng phần lớn là những người lao động hoặc học sinh, chủ yếu là nữ sinh. Người ta hoặc vừa đi vừa ăn hoặc ngồi bệt xuống đất ăn. Cảnh, trông hơi hơi nhếch nhác. Nhưng nhiều người lại bênh vực, cho chính những điều đó đã tạo nên cái hồn cho Bangkok, tạo ra sự sống và sức thu hút của Bangkok, làm cho Bangkok khác hẳn các thành phố đã hoàn tất quá trình đô thị hoá khác ở Tây phương cũng như ở Đông phương. Cách đây mấy năm, tôi đã nghe một người bạn đồng nghiệp, vốn là chuyên gia về Thái Lan, nói điều ấy. Thú thực, tôi không có ý kiến gì rõ rệt. Đó là một sự chọn lựa mà bên nào cũng phải trả giá. Để cảnh buôn gánh bán bưng dày đặc như thế, thành phố được chút nhân tình nhưng lại mất khá nhiều vẻ thẩm mỹ và cả vệ sinh. Nhưng vì vấn đề thẩm mỹ và vệ sinh, dẹp các gánh hàng và xe đẩy ấy đi, thì những người nghèo khổ kia sẽ đi đâu và làm gì để sinh sống? Chúng ta từng biết, ở Việt Nam, chẳng hạn, trước mỗi cuộc hội nghị lớn có nhiều khách khứa quốc tế, công an lại đi lùng sục bắt bớ những người vô gia cư trên các lề đường rồi chở họ đi đâu đó. Đâu là đâu? Tôi không nghe ai nói cả. Chỉ biết là nơi nào đó khuất mắt mọi người. Ở đó họ sống ra sao, không ai thèm biết.

Với riêng tôi, hôm đầu tiên đến Bangkok, đi ngoài đường, điều quyến rũ tôi nhất chính là những chiếc xe đẩy bán thức ăn như thế. Chúng làm tôi nhớ đủ thứ. Trước năm 1975, ở Đà Nẵng, tôi thấy nhiều nhất là những người bán hàng gánh. Sau, vào Sài Gòn, thấy cả hai: cả hàng gánh lẫn xe đẩy. Phần lớn các gánh hàng rong bán từ sáng đến tối; tuy nhiên, có một số món hình như thích hợp với một thời điểm nhất định trong ngày, như xôi vào buổi sáng, tàu hủ nước đường vào buổi trưa và trứng vịt lộn vào buổi tối. Trên các xe đẩy thường có một cái lục lạc lúc nào cũng leng keng để thu hút sự chú ý của mọi người. Nhưng người bán hàng gánh thì phải rao. Nơi rao hàng hay nhất là ở Sài Gòn. Và ở Sài Gòn, nơi rao hàng hay nhất là ở các bến xe đò. Người ta rao có vần có điệu và lên bổng xuống trầm. Nghe như hát. “Bánh mì nóng hổi, vừa thổi vừa ăn đđââ..y...., bà con ơi!” Đại khái thế. Ở miền Trung, ít nhất ở Quảng Nam và Đà Nẵng, người ta thường rất kiệm lời khi rao. Thường chỉ một hai chữ, kiểu “Xôi đây!” “Tàu hủ đây!” hay “Hột vịt lộn đây!” Buổi tối, càng về khuya, người bán hàng càng mỏi mệt, lời rao càng ngắn lại, có khi cụt ngủn, chỉ còn một chữ. Buồn cười nhất là, với chữ “hột vịt lộn”, người ta thường giữ lại chữ “lộn” chứ không phải là “trứng”, “hột” hay “vịt”. Giữa đêm vắng lặng, chỉ nghe vang lên, lề nhề, mỏi mệt, rã rượi một chữ “lộn” ngân dài. Dài đến nỗi dấu nặng thành dấu huyền. Có lần, ông anh tôi đang học thi tú tài, nghe như vậy, cười đùa: “Trời, giữa khuya mà nghe hoài một chữ như vậy làm sao mà tập trung học đây, hả Trời?” Mọi người cười ồ. Năm ấy anh thi rớt. Chẳng biết có phải vì cái tiếng rao bán hột vịt lộn ấy hay không.

Trong các xe đẩy bán thức ăn ở Bangkok, tôi chú ý nhất đến những chiếc xe đẩy có lò than, trên đó, có vô số thứ được nướng, khói bay nghi ngút và mùi thơm toả ngào ngạt. Một lần, đang đi bộ, tôi thấy một chiếc xe đẩy đi qua với những củ khoai nướng thơm lừng, tự nhiên đâm ra thèm nôn nao. Hồi nhỏ, tôi cũng thường ăn khoai lang nướng. Chỉ có điều là hồi ấy, khoai không được đặt trên các vĩ sắt. Mà bỏ ngay trên bếp củi hoặc lụi dưới đống tro nóng, ở trên lửa vẫn cháy rừng rực. Lúc moi củ khoai ra, vỏ nó cháy đen và đầy tro than. Nhưng chẳng sao cả. Đầu tiên là phủi hết tro; sau đó, lột lớp vỏ cháy bỏ: chỉ còn thịt khoai thơm ngát. Lớn lên, nhất là từ lúc ra ngoại quốc, tôi chưa bao giờ được ăn khoai lang nướng. Lâu lâu, hoạ hoằn được ăn khoai luộc. Nhưng luộc khác nướng. Khoai luộc không có mùi thơm hấp dẫn như khoai nướng. Hôm ấy, nhìn chiếc xe đẩy có mấy củ khoai nướng, tôi bỗng thấy thèm lạ lùng. Bỗng nảy ra ý định mua vài củ. Nhưng lúc ấy người bán hàng đã đi khá xa. Hụt. Đúng lúc tôi đang tiếc hùi hụi như vậy thì một chiếc xe khác trờ tới. Cũng có lò nướng và có mấy củ gì đó ở trên, cháy đen. Tôi vẫy ngay lại. Té ra không phải khoai lang. Mà là chuối nướng. Tôi đang phân vân, người bán hàng hỏi, bằng tiếng Việt: “Anh là người Việt hả?” Ồ, trời ơi, đang nhớ khoai lang nướng, nhớ tuổi thơ, nhớ Việt Nam, mà được nghe tiếng Việt, tôi thấy xúc động vô cùng. Hỏi: “Chị sống ở đây lâu chưa?” Đáp: “21 năm.” Tự nhiên tôi lại buộc miệng hỏi vô duyên: “Tại sao chị qua đây sống vậy?” Chị bán hàng, trả lời tôi một cách lấp  ngượng ngùng: “Em qua đây để buôn bán làm ăn.” Tôi nhìn chị. Chị khoảng dưới 40 tuổi, gầy guộc, đen đúa, mồ hôi vã ra ướt đẫm trên mặt và trên cổ. Quánh đặc giữa những giọt mồ hôi ấy là bụi và tro. Toát lên lồ lộ từ mặt mũi đến thân hình chị là cái nghèo và cái khổ. Nhìn chị là thấy ngay sự lam lũ. Không hiểu tại sao, tôi liên tưởng ngay đến những người vượt biên đến Thái Lan nhưng không được nhận tị nạn ở các nước thứ ba. Một số người bị cưỡng bức về Việt Nam. Một số người khác, bằng cách nào đó, ở lại Thái Lan sống qua ngày. Chị là một trong số những người ấy chăng? Tôi không hỏi và cũng không biết. Sau khi mua mấy trái chuối nướng, từ giã chị, tôi cứ bị hình ảnh của chị ám ảnh mãi. Một người phụ nữ nghèo nàn lam lũ vất vả ở nước ngoài. Tôi nhớ nét rạng rỡ trên khuôn mặt chị khi hỏi “Anh là người Việt hả?” và nét lúng túng tần ngần trước câu hỏi vô duyên “Tại sao chị qua sống ở Thái Lan?” của tôi.

Tôi nhớ đến một người anh họ, cuối thập niên 1980, vượt biên sang Thái Lan, bị từ chối quyền tị nạn. Anh mổ bụng phản đối. Nhưng cuối cùng, anh cũng bị buộc quay về Việt Nam. Ở Việt Nam, anh phải chịu đựng bao nhiêu điều khốn khổ. May, hơn 10 năm sau, anh và cả gia đình được sang Mỹ theo một quy chế đặc biệt nào đó. Anh em và bạn bè cứ trêu anh: Không ai đi vượt biên lâu như anh. Mất hơn 10 năm mới tới được nơi mình muốn. Chỉ tiếc lúc ấy anh đã khá lớn tuổi để có thể làm những gì mình mơ ước.
Đến Thái Lan, chưa kịp vui, đã thấy buồn hiu hắt.

Hình: ASSOCIATED PRESS

Ở Bangkok, sợ nhất là nạn kẹt xe. Đọc báo chí trong nước, tôi nghe nói nạn kẹt xe ở Việt Nam sau này cũng ghê gớm lắm. Nhưng đã sáu, bảy năm rồi không về, tôi không biết mức độ gọi là “ghê gớm” ấy cụ thể ra sao cả. Nhưng nạn kẹt xe ở Bangkok thì quả là tôi chưa từng chứng kiến. Nhìn, mới thấy cảnh kẹt xe ở Úc hay ở Mỹ (trừ trường hợp có tai nạn) chỉ là chuyện cỏn con.

Ở Thái Lan, mặc dù chính phủ nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng với những xa lộ và xe công cộng khá lớn nhưng vẫn không giải quyết được nạn kẹt xe. Đường xá được xây dựng hoặc mở rộng không kịp với đà phát triển của xe cộ. Ví dụ, theo các thông báo chính thức, từ năm 2010 đến năm 2011, hệ thống đường xá ở Bangkok không thay đổi trong khi số xe hơi đăng ký chính thức lại tăng thêm 6.2%, với hơn 1000 chiếc mỗi ngày, đẩy tổng số xe trong thành phố lên đến gần 7 triệu chiếc. Theo tính toán của các chuyên gia về giao thông ở Bangkok, tốc độ trung bình của xe hơi trong giờ cao điểm buổi sáng chỉ khoảng 16 cây số/giờ; buổi chiều chỉ khoảng 23 cây số/giờ. Vấn đề là: lúc nào thì gọi là giờ cao điểm? Ở Úc, nơi tôi sống, giờ cao điểm ở buổi sáng thường là từ 8 đến 9; ở buổi chiều, khoảng từ 5 đến 6. Nhiều ngày, lái xe ra khỏi nhà lúc 8:30 sáng: kẹt. Những ngày khác, đi sớm hơn một chút, trước 8 giờ, hoặc muộn hơn một chút, sau 9 giờ: xe chạy bon bon. Buổi chiều cũng vậy. Trước và sau một giờ đã thấy khác hẳn.

Ở Bangkok thì phần lớn thời gian trong ngày đều là giờ... cao điểm. 7,8 giờ sáng: kẹt xe. 9 giờ sáng: kẹt xe. 10 giờ sáng: cũng kẹt xe. Chiều, từ khoảng 4 đến tận 8, 9 giờ, hầu như lúc nào cũng kẹt xe. Tôi có cảm tưởng chỉ khoảng giữa trưa hoặc khuya lơ khuya lắc, đường mới thực sự thông thoáng để người ta biết sự khác biệt trong tốc độ của xe hơi và của xe đạp.

Ở Bangkok mấy ngày, tôi đã từng ngồi trên xe cả gần một tiếng đồng hồ, chỉ nhúc nhích được vài ba trăm mét. Khi xe nằm giữa cầu, nhìn phía trước: thấy xe nối đuôi nhau dằng dặc; nhìn phía sau, cũng thấy xe nối đuôi nhau dằng dặc. Tất cả nằm yên. Bất động. Nếu nhúc nhích, chỉ nhúc nhích một cách hoạ hoằn. Người tài xế tắc xi cho biết những cảnh như vậy xảy ra hằng ngày. Tôi hỏi: Nếu có hẹn gì cần phải đúng giờ thì sao? Ông đáp: Thì hoặc là đi thật sớm hoặc là đến trễ. Nhưng ông cười, nói tiếp: “Có trễ cũng chẳng sao đâu, ở đây, ai cũng biết chuyện giao thông nên người ta hiểu mà!”

Đối diện với nạn kẹt đường thường xuyên như thế, người Thái Lan có thói quen lái xe không khác gì người Việt Nam. Cũng rất ẩu. Muốn đổi làn (lane) là đổi ngay tức khắc. Cứ chếch đầu xe về hướng làn mới. Người đổi làn tuỳ theo phản ứng của người ở làn bên cạnh mà đi luôn hoặc dừng lại chờ. Giống những cuộc thi gan thường thấy trên đường phố Việt Nam. Chỉ có điều khác là người Thái Lan không bóp còi inh ỏi như ở Sài Gòn hay Hà Nội. Họ cứ kiên nhẫn chịu đựng cảnh kẹt xe và khi cần, lấn giành đường. Nhưng không bóp còi hay chửi lộn. Những lúc ấy, tôi thường ngồi quan sát thái độ của các tài xế lái xe. Hàng chục lần, với hàng chục người, tôi cũng chỉ thấy một điều: nhẫn nhục chờ đợi. Với những bạn đọc chưa từng đến Bangkok, để dễ tưởng tượng, tôi đề nghị thế này: hãy lấy cảnh đường xá ở Sài Gòn hoặc Hà Nội, thay các xe gắn máy bằng xe hơi và trừ đi tiếng còi xe và tiếng chửi thề: Đó là cảnh ở Bangkok.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất trong chuyện đi tắc xi ở Bangkok của tôi là hai lần bị tài xế đuổi xuống đường.
Lần đầu, từ một trung tâm thương mại về khách sạn, đường kẹt cứng. Buổi sáng, lúc tôi đi, chỉ mất chưa tới nửa tiếng. Chiều, tôi về, chiếc xe cứ nhúc nhích như người đi bộ. Người tài xế đổi đường và đổi hướng liên tục, nhưng ở đâu cũng bị kẹt. Khoảng một tiếng rưỡi sau, tôi nghe người tài xế nói bằng một thứ tiếng Anh lõm bõm, đại khái: ông bảo tôi xuống, đi bộ khoảng 10 phút thì đến khách sạn. Tôi làm lơ. Một phần, tôi không chắc tôi hiểu đúng những gì ông muốn nói. Phần khác, đó là ngày đầu tiên tôi đến Bangkok, mới rời khách sạn vào buổi sáng, chỉ biết tên đường chứ không biết phương hướng gì cả nên rất ngại bị lạc. Ngoài ra, trời ở Bangkok rất nắng và nóng. Nghĩ đến chuyện đi bộ 10 phút, tự nhiên thấy nản. Vả lại, tôi nghĩ một cách máy móc, như ở Tây phương: mình đã lên tắc xi, nhiệm vụ của tài xế là phải chở đến tận nơi. Ngay tận cửa.

Thấy tôi im, người tài xế cũng không nói gì thêm. Xe lại nhúc nhích lăn từng chút, từng chút trên đường phố nghẹt cứng. Khoảng hơn hai mươi phút sau, ông lại xua tay có vẻ như đuổi tôi xuống xe. Tôi hơi bực. Sau đó, ông cố giải thích bằng tiếng Anh theo lối ráp từng chữ, tôi hiểu, đại khái, nếu tôi chịu khó xuống đi bộ thì chỉ mất khoảng 2 phút, còn nếu tiếp tục ngồi trên xe thì sẽ mất khoảng 20 phút. Nghe khoảng cách giữa 2 và 20 phút như thế, tôi đồng ý trả tiền và xuống xe. Thật ra, quãng đường từ chiếc xe ấy đến khách sạn mất hơn 5 phút. Nhưng, thôi, cũng được: ít nhất cũng đỡ hơn ngồi trong xe.

Lần khác, tôi lại đón tắc xi vào buổi tối. Tưởng sau 8 giờ đường xá thông thoáng hơn. Nhưng không: hướng nào cũng kẹt. Người tài xế cứ quay hướng này rồi quay hướng khác. Hướng nào cũng đầy xe. Cuối cùng, sau khoảng nửa tiếng, ông thả tôi xuống trước một trạm xe lửa chạy trên cầu nổi (skytrain), bảo: nên đi xe lửa, nếu không, sẽ không bao giờ tới được điểm hẹn cả. Ông còn tử tế chỉ tôi cách mua vé. Rồi lấy tiền và phóng xe đi. Đã có kinh nghiệm lần trước, lần này tôi không hề ngạc nhiên và bất mãn. Tôi còn thầm cám ơn vì nhờ vậy, tôi học được cách đi xe lửa ở Bangkok. Thật ra, hệ thống xe lửa ở Bangkok không nhiều đủ để thay thế xe tắc xi, nhưng dù sao biết cũng tốt, phòng những lúc bị kẹt cùng, không có lựa chọn nào khác. Lại có thêm một chút kinh nghiệm về cảnh chen chúc và chen lấn.

Sau này, đi tắc xi nhiều, tôi biết được một quy luật tính tiền: bình thường, họ tính theo đồng hồ cây số gắn trong xe; nhưng khi bị kẹt đường, nhất là vào giờ cao điểm buổi sáng và buổi chiều-tối, họ đòi giá bao. Ví dụ, từ điểm A đến điểm B, bình thường, tiền trên đồng hồ là 50 baht; giờ cao điểm, họ đòi gấp ba hay gấp 4, thậm chí gấp 5 lần.

Giá tắc xi ở Thái Lan khá rẻ. Tăng gấp mấy lần cũng không phải là vấn đề. Chỉ có điều, giá tiền tăng nhưng tốc độ xe chạy vẫn không tăng. Cứ nhúc nhích từng chút. Từng chút. Không chừng một phần vì vậy mà người Thái, nói chung, có vẻ nhẫn nhục một cách lạ thường. Họ nhẫn nhục từ cách chào hỏi, nói năng và cười.

A! Nụ cười. Tôi có thể dễ dàng “đọc” được các kiểu cười của người Việt. Riêng nụ cười của người Thái, với tôi, vẫn còn là một bí ẩn.

Từ từ nghiên cứu sau.

***
Chú thích:
(1). Tháng 2, ở Úc còn là mùa hè. Các trường đại học đến ngày 27 tháng 2 mới mở cửa lại.
(2) Một đô Úc (và Mỹ) ăn hơn 30 đồng baht.

0 comments:

Post a Comment

Ban Chủ Trương:
Nguyễn Minh Cần, Song Chi, Đinh Xuân Quân, Phạm Phú Minh,
Vũ Quí Hạo Nhiên, Đỗ Quý Toàn, Trần Mộng Tú.
Bài vở cộng tác, xin gởi về địa chỉ email:
info.theky21@gmail.com
hoặc liên lạc điện thoại: 714-839-8746