Giới thiệu

GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 7 - tt)

Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4 năm 2011

Trần Nguơn Phiêu

Chương 7

Cách Mạng Mùa Thu (2)

Vào chiều ngày 22 tháng 8, 1945, một biến cố quan trọng đã làm giảm lực lượng các đảng phái quốc gia trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất: Phạm Ngọc Thạch, Tổng Thơ Ký của đảng Quốc Gia Ðộc Lập của Hồ Văn Ngà, người được Ngà ủy thác trách nhiệm thành lập tổ chức Thanh Niên Tiền Phong, nay lại tuyên bố: “Tổ chức Thanh Niên Tiền Phong gia nhập Mặt Trận Việt Minh!”. Trần Văằn Giàu đã móc nối bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, một trí thức thuộc giai cấp phong lưu, có vợ là người Pháp, thành cán bộ Cộng sản Ðệ tam! Một số người trong giới cách mạng lại nghĩ rằng bác sĩ Thạch đã bị Giàu hù dọa: Nếu Thạch không trở cờ theo Giàu, ngày sau sẽ bị Ðồng Minh xử là tội phạm chiến tranh vì đã tòng phạm với Nhật thành lập Thanh Niên Tiền Phong để giúp Nhật.



Không khí chính trị Sài Gòn sôi sục vì các tin tức dồn dập đưa đến sau ngày 19 tháng 8, ngày Mặt Trận Việt Minh Cứu Quốc cướp chánh quyền ở Hà Nội và việc thành lập Chánh phủ Nhân dân Lâm thời của Hồ Chí Minh. Trong Nam, Trần Văn Giàu kêu gọi đồng bào tham gia một cuộc biểu tình lớn do Việt Minh tổ chức vào ngày 25-8-1945. Trước hiểm họa Pháp lâm le định trở lại Việt Nam, các đảng phái đã đồng ý tham dự cuộc biểu dương lực lượng để chứng tỏ ý chí toàn dân quyết bảo vệ nền độc lập vừa được thâu hồi. Một lần nữa, Triệu lại tham dự cuộc tuần hành trong hàng ngũ Dân Quốc Quân với chiếc ca lô xanh, gắn ngôi sao vàng bằng đồng. Trước ngày biểu tình, Việt Minh cũng có những cuộc bàn tính sôi nổi, không biết Nhật có phản ứng chống chọi gì không. Vì vậy nên có đề nghị cho phát động một cuộc cướp chánh quyền ở Tân An trước, để dò la phản ứng Nhật. Thấy cuộc biểu tình ở Tân An ngày 24 tháng 8 thành công trót lọt và quân đội Nhật canh gác các cầu vẫn cho để dân chúng lưu thông dễ dàng nên cuộc biểu tình lớn ở Sài Gòn được bật đèn xanh cho xúc tiến.


Sáng ngày 25, Triệu thức thật sớm, vai vác tầm vong vạt nhọn để đến địa điểm tập họp, mặc dầu trời vẫn còn tối. Khi Triệu đi ngang qua một ngõ ở phố Phước Ðông, Gia Ðịnh, một anh lính Nhật đã từ trong bóng tối vác súng gắn lưỡi lê ra chận lại. Triệu không hiểu anh líu lô nói gì, chỉ biết chìa cho anh ta xem chiếc băng tay có dấu hiệu toán trưởng và tấm thẻ Dân Quốc Quân. Anh ta chắc cũng không hiểu mô tê gì nhưng đã bằng lòng cho Triệu tiếp tục đi. Trước tiên, Triệu tưởng là quân Nhật đã có lịnh ngăn cấm không cho đi biểu tình, sau mới đoán là có lẽ anh lính gác nầy thấy Triệu đi gần cổng cư xá sĩ quan Nhật nên chỉ chận lại không cho vào mà thôi.


Trong cuộc biểu tình ngày hôm đó, Triệu cũng thấy các anh trong nhóm Tranh Ðấu tập họp sau một tấm banderole lớn có vẽ hình một trái đất tròn có ánh sáng chớp số 4, huy hiệu của Ðệ tứ Quốc tế Cộng sản. Giống như lần tổ chức biểu tình ba ngày trước, lần này các anh cũng tập họp ở ngã tư đường Massiges và Norodom. Có chuyện đặc biệt là lúc đầu các anh Ðệ Tứ chỉ vào khoảng hơn trăm người nhưng về sau các công nhân từng có cảm tình với nhóm Tranh Ðấu vì đã được Tranh Ðấu giúp đỡ trong các cuộc đình công đã bỏ toán của họ và gia nhập nhóm Tranh Ðấu càng lúc càng đông khiến đoàn biểu tình Tranh Ðấu biến thành một tổ chức trên ba trăm người.


Cuộc biểu tình tụ họp kết thúc trước dinh Ðốc lý Sài Gòn. Các nhân vật ra mắt trên bao lơn tòa Thị sảnh gồm có Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Tiễng, Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch, v.v...


Chiều tối trước hôm đó, ở bồn kèn góc Charner, Bonard thấy có dựng lên một kỳ đài cao khoản mười thước, sơn đỏ, ghi danh sách của Lâm ủy Hành chánh Nam bộ gồm 9 người với Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Bảy người trong Lâm ủy toàn là cán bộ Cộng sản Ðệ tam. Không có một người nào là thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất, tổ chức đã được dân chúng Sài Gòn ngưỡng mộ từ sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Kỳ đài sơn đỏ này được nghe đồn là công trình của kiến trúc sư trẻ, Huỳnh Tấn Phát, dựng lên theo lời yêu cầu của Huỳnh Văn Tiểng.


Việc làm trái với tinh thần đoàn kết quốc dân trước hiểm họa Pháp toan tính tái xâm lăng, đã làm dân chúng bất bình và hoang mang. Năm ngày sau, tức vào ngày 30 tháng 8, Lâm ủy Hành chánh mở phiên nhóm Hội nghị Khoáng đại, có báo chí tham dự. Ông Huỳnh Phú Sổ và Trần Văn Thạch đã đứng lên chất vấn Trần Văn Giàu: “Ai đã cử Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ?”.


Trần Văn Giàu trả lời Trần Văn Thạch với giọng du côn và thách thức, tay mặt vỗ vào cây súng ngắn đeo bên hông: “ Anh Thạch, anh hỏi ai cử Lâm Ủy Hành Chánh nhưng thật ra tôi biết anh đang nghĩ trong bụng: ‘Sao không ai đem ta vào Lâm Ủy’. Tôi xin trả lời: chúng tôi tạm thời đảm đương Chánh phủ. Còn trả lời về chánh trị, tôi sẽ gặp anh ở một nơi khác”. Buổi hội đã kết thúc trong bầu không khí im lặng ngột ngạt, báo trước chủ trương thủ tiêu đối lập của Trần Văn Giàu về sau này.


Triệu được biết sau đó có một cuộc họp quan trọng ở nhà bà Bác sĩ Nguyễn Thị Sương và chồng là Hồ Vĩnh Ký. Trong phiên họp này trạng sư Dương Văn Giáo từ Thái Lan về đã trình cho các người tham dự xem chứng tích đã được Nhật phát giác khi chiếm bót Catinat, đầu não của mật thám Pháp ở Nam Bộ. Các tài liệu này đã được Huỳnh Văn Phương sao chụp lại và giao cho các ông Huỳnh Phú Sổ, Trần Văn Thạch, ghi cảnh Trần Văn Giàu nhận tiền do Arnoux, trùm mật thám Pháp giao để thi hành các công tác bí mật. Một số người tham dự có ý định đem các bằng chứng này để lật mặt Trần Văn Giàu nhưng số đông lại chủ trương không nên làm giảm uy tín của Lâm Ủy Hành Chánh, trong khi Pháp đang tìm cách trở lại Ðông Dương. Dương Văn Giáo đã được ủy thác gặp Trần Văn Giàu, cho Giàu biết quyết định của các anh em là Giàu phải mở rộng Lâm Ủy Hành Chánh để có sự tham gia của các đoàn thể yêu nước và chứng tỏ cho đồng bào và thế giới thấy sự đoàn kết toàn dân trong việc quyết tâm bảo vệ nền độc lập vừa mới thâu hồi.


Ngày 29 tháng 8, Ủy ban Hành chánh Sài Gòn-Chợ Lớn ra thông cáo yêu cầu dân chúng chuẩn bị đón tiếp phái bộ Ðồng Minh Anh-Mỹ-Nga-Tàu, khuyến khích mỗi nhà nên treo cờ Ðồng Minh để tiếp rước. Dân chúng cũng được thông báo phải chuẩn bị tham gia một cuộc biểu tình mới, ngày 2 tháng 9, theo chỉ thị của chánh phủ trung ương Hà Nội, để ăn mừng Ðộc lập. Ban tổ chức biểu tình nhóm tại tòa Ðô chánh bàn cãi sôi nổi về việc có nên biểu tình có võ trang hay biểu tình ôn hòa tay không để tránh rủi ro lộn xộn nếu có phần tử khiêu khích trà trộn. Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm Ủy và cũng là Ủy trưởng Quân sự quyết định nên biểu tình võ trang để “biểu diễn lực lượng dân quân”. Bốn Sư đoàn Dân quân Cách mạng đã được các đoàn thể Mặt trận Quốc gia Thống nhất đồng thuận thành lập từ trước. Các tổ chức có quần chúng lo trách nhiệm chiêu mộ dân quân để thành lập các sư đoàn: Ðệ Nhứt Sư Ðoàn của Việt Minh gồm nhiều cựu chiến binh và Bình Xuyên, Ðệ Nhị Sư Ðoàn do Cao Ðài phụ trách với tổ chức Nội Ứng Nghĩa Binh “Heiho” đã được huấn luyện ở các xưởng đóng tàu Khánh Hội, Ðệ Tam Sư Ðoàn do Nguyễn Hòa Hiệp, đảng viên Quốc Dân Ðảng miền Nam và Ðệ Tứ Sư Ðoàn do Phật Giáo Hòa Hảo đảm trách với tổ chức Bảo An đã được thành hình hai năm về trước.


Trần Văn Giàu đã biết trước là các sư đoàn dân quân còn đang trong thời kỳ thành lập, võ khí thô sơ nên đã tuyên bố trước: “Ðây là một cuộc biểu diễn sự đoàn kết, không phải là biểu dương sức mạnh”.


Từ sáng sớm ngày 2 tháng 9, dân chúng và dân quân đô thành và các vùng phụ cận như Gò Vấp, Hóc Môn, Bà Ðiểm, Bình Chánh, Bình Ðiền... đã tề tựu về đường Norodom, được đổi tên là Ðại lộ Cộng Hòa. Cuộc diễn hành được dự trù sẽ đi qua khán đài danh dự dựng ở sau nhà thờ, xuống đường Ba Lê Công xã tức đường Catinat để qua đường Lê Lợi tức đại lộ Bonard và sẽ đổ về vùng Cầu Ông Lãnh... Theo chương trình, đúng 2 giờ trưa sẽ nghe bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát đi từ Hà Nội... nhưng dân chúng đã chờ hơn nửa giờ mà không bắt được làn sóng điện. Thế là Trần Văn Giàu đăng đàn diễn thuyết. Thay vì nói đến tương lai đất nước trong bối cảnh một cuộc lễ ăn mừng toàn quốc Việt Nam độc lập, Giàu chỉ hằn hộc nói toàn đến chuyện đe dọa “Bọn người phản quốc đương kiên cố hàng ngũ... sẽ bị tòa án nhân dân trừng trị thẳng tay...”. Dân chúng đứng nghe có cảm tưởng như “bọn phản nghịch” đã phá được làn sóng điện phát thanh từ Hà Nội, khiến Giàu phải bực tức như vậy.


Sau diễn văn, cuộc tuần hành bắt đầu với những đoàn người vừa đi vừa hô to các khẩu hiệu đấu tranh hay ca hát các bản Lên Ðường, Bạch Ðằng Giang... Vào khoảng 4 giờ chiều khi đoàn diễn hành đến sau nhà thờ để quẹo xuống đường Ba Lê Công Xã thì chợt có tiếng súng nổ. Trong cơn bối rối, dân chúng và các toán Dân quân tan hàng để phản công. Người thì quả quyết súng bắn ra từ nhà các đức Cha, người thì cho là từ hãng xe Jean Comte bên kia đường, sau nhà thờ. Cha Tricoire, từng làm tuyên úy Khám Lớn Sài Gòn, được các nhà cách mạng vào tù từng có dịp biết và kính nể, đã bị lôi ra bắn chết trước ngõ. Từ đó đã nghe thấy súng nổ hầu như khắp châu thành. Dân chúng chia nhau đi phản công, nhất là sau khi nghe có người đã thấy có tiếng súng phát ra từ trên lầu các nhà ở đường Bonard. Tình hình rối ren cực kỳ nghiêm trọng. Từng toán người Pháp bị bắt và bị trói dẫn đến nhốt ở bót Catinat. Riêng Triệu đã chứng kiến thấy một công nhân tên Lê Văn Long trong nhóm Ðệ Tứ lôi cổ một người Pháp từ trong nhà các Cha xứ để giao nạp cho Tự vệ của Dương Bạch Mai. Trời lúc ấy đã bắt đầu mưa, càng ngày càng lớn và đến 6 giờ chiều dân chúng đã lần lần giải tán và tiếng súng mới yên hẳn. Trọn đêm đó, ngoài đường vắng lặng. Mọi người đều trông đợi tin tức nhưng không có một thông cáo nào của Lâm Ủy Hành Chánh, không có một xe phóng thanh nào chạy rao ngoài đường.


Ðến sáng hôm sau, ngày 3 tháng 9 mới thấy Thông cáo của Lâm Ủy:
“Chiều hôm qua giữa người Nam và người Pháp có một cuộc xung đột, do người Pháp gây ra.


Chúng ta đã đối phó rất cương quyết và anh dũng. Kết quả có người Pháp, người Anh, người mình chết và bị thương. Sự thu xếp với nhà binh Nhật và nhà binh Ðồng Minh đã ổn thỏa. Phần ưu thắng tự nhiên về phe đi đúng với công lý và lịch sử, về phe chúng ta.


Từ nay, người Pháp không còn dám khiêu khích nữa.


Vậy Ủy ban Hành chánh, sau khi thương thuyết có kết quả với Nhật và Ðồng Minh đã ra lịnh cho quân đội và cảnh binh canh gác các công sở và các ngả đường quan hệ. Ngoài những người ấy ra, thì không ai được xét bắt hay cản xe cộ đi đường.


Trừ những người của quân đội và của quốc gia tự vệ, không ai được phép mang võ khí: gậy, dao, súng. Bọn người Pháp cũng vậy, điều đó có Ðồng Minh bảo đảm cho ta.


Ngày nay, Ủy ban Hành chánh sẽ tha bọn khiêu khích để chứng tỏ cho Ðồng Minh ý muốn hòa bình của chúng ta, trái với cái dã tâm của bọn thực dân Pháp. Bọn Việt gian bị bắt sẽ đem ra tòa án nhân dân trừng trị.


Ðồng bào, sau khi chúng ta đã hăng hái chiến đấu, tỏ cho quân Pháp biết tinh thần dũng mãnh của chúng ta, đồng bào hãy giữ trật tự, yên tĩnh đừng gây ra những sự rối loạn để giúp cho Chánh phủ được thắng lợi trên đường ngoại giao”.


Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Nam Bộ:
Trần Văn Giàu.

Giống như phần đông dân chúng Sài Gòn thời bấy giờ, Triệu thấy có một cái gì không ổn trong thông cáo. Ðã bảo là thắng lợi, sao lại có việc phải thả ngay trong đêm những người bị bắt, tại sao lại cấm nhân dân không được võ trang mặc dầu với dao, gậy? Dân chúng Sài Gòn sau đó đã biết được sự thật là phái bộ Anh đã buộc Công An của Dương Bạch Mai phải thả các người Pháp bị bắt. Thống chế Nhật Terauchi được lịnh phải giữ an ninh trật tự trong thành phố và Trần Văn Giàu phải giải tán Dân quân!


Ba ngày sau đó, tối ngày 5 tháng 9, để tìm cách trấn an dân chúng, Trần Văn Giàu đăng đàn diễn thuyết ở rạp hát Nguyễn Văn Hảo, nhưng cũng không thuyết phục được dân chúng phải chấp nhận những gì y nói, nhất là khi Giàu cho biết là Kho Bạc hiện thiếu 7 triệu đồng. Dân chúng hoang mang: 7 triệu đồng ai lấy mà bây giờ mới thấy thiếu?


Ngày hôm sau, 6 tháng 9, có tin phái bộ Ðồng Minh đến. Phạm Ngọc Thạch, ủy trưởng Ngoại giao thành lập một ủy ban tiếp phái bộ với 4 người: Giáo sư Trần Văn Thạch, giáo sư Phan Văn Chánh, luật sư Huỳnh Văn Phương, bác sĩ Nguyễn Ngọc Sương. Cả bốn người toàn thuộc nhóm trí thức Ðệ Tứ. Không thấy nói đến chuyện tổ chức quần chúng đón tiếp phái bộ Ðồng Minh như đã từng được chuẩn bị trước kia. Thật ra, phái đoàn nầy chỉ là một toán nhỏ phái bộ Anh từ Miến Ðiện bay sang để bàn tính chuyện giải giới quân đội Nhật.


Hai mươi bốn giờ sau khi phái bộ Anh đến, tức vào ngày 7 tháng 9, Trần Văn Giàu ra một thông cáo động trời khác, làm dân chúng té ngửa: “Sau cuộc tranh đấu ngày 2 tháng 9... trong số người chết có người Ðồng Minh... Nhưng liền sau đó lại có người không trách nhiệm đòi võ trang quần chúng. Vì có bọn gây rối... để cho ngoại quốc có cơ hội xâm phạm đến chủ quyền ta, Tổng hành dinh Nhật quyết định:
- Giải tán Dân quân
- Tịch thâu liên thinh và một số khí giới khác.
- Cấm sự hoạt động chánh trị, phá rối trị an.
- Cấm biểu tình không xin phép trước với quân đội Nhật.
- Cấm thường dân giữ và mang võ khí gồm luôn dao, gậy...”

Cũng trong ngày 7 tháng 9, ngày mà dân chúng Sài Gòn hết tin tưởng ở lời tuyên truyền trước kia: “Mặt trận Việt Minh là tổ chức của Ðồng Minh” vì “Ðồng Minh” vừa đến là có chuyện giải tán Dân quân, cấm biểu tình v.v... một tin sét đánh khác được loan trình nhanh chóng trong dân chúng Sài Gòn và miền Nam: Một bản tin to lớn được đặt trước trụ sở nhóm Tranh Ðấu ở góc đường Lagrandière và Phi công Garros cho biết: nhà cách mạng thân thương của miền Nam là Tạ Thu Thâu lại bị bắt ở Quảng Ngãi!


Rất nhiều nhân sĩ và nhất là nhóm Tranh Ðấu đã lên tiếng chất vấn Trần Văn Giàu về việc này. Bác sĩ Hồ Tá Khanh đã gởi điện tín ra Hà Nội can thiệp. Những người đã từng du học ở Pháp trước kia và đã biết Tạ Thu Thâu ngày trước vốn là ân nhân của Trần Văn Giàu, từng coi Giàu như em út lúc Giàu còn theo học Tú tài ở Toulouse. Ông Trần Văn Ân, đã ráo riết kêu gọi Giàu phải can thiệp thả ngay Tạ Thu Thâu. Nhiều người còn gởi cả điện tín ra Bắc để đòi Trung ương phải ra chỉ thị cho địa phương Quảng Ngãi, thả ngay Tạ Thu Thâu. Cuối cùng, Giàu ra thông cáo đăng trên các báo: “Vụ Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi không liên can đến Lâm ủy Hành chánh ở Nam bộ... Ủy ban nhân dân ở trong Nam bộ được và có quyền xử Tạ Thu Thâu...”. Ðây có phải là một việc phủi tay hay là một việc làm cố ý của Giàu hay của Hồ Chí Minh, nhờ tay một ủy viên cấp nhỏ, vô danh tiểu tốt như Từ Ty ở Quảng Ngãi để thủ tiêu một thủ lãnh miền Nam có uy tín với quần chúng, người có khả năng lật lại thế cờ ở Nam bộ?


Việc ám hại Tạ Thu Thâu đã bị các biến cố dồn dập tiếp theo xảy ra ở Nam bộ, khiến phản ứng của nhân sĩ trí thức miền Nam đã bị khuấy loãng: Tối ngày 7 tháng 9, theo chỉ thị của Trung ương Hà Nội, để làm giảm uy tín Trần Văn Giàu mà họ sợ không điều khiển được, hai ủy viên được Hồ Chí Minh biệt phái từ Bắc vào là Hoàng Quốc Việt tức Hạ Bá Cang và Cao Hồng Lãnh triệu tập Ðại hội nghị cải tổ Lâm ủy.


Buổi họp được tổ chức vào đêm 7 tháng 9 tại trụ sở Tổng Công Ðoàn ở đường Lagrandière, với sự hiện diện của hai sứ giả Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lãnh. Ngay từ lúc khởi đầu, buổi hội đã thấy gay cấn khi Bác sĩ Hồ Vĩnh Ký đưa tài liệu chất vấn Trần Văn Giàu về các liên hệ của Giàu với sở Mật thám Pháp trong hai năm vừa qua. Nhiều đại biểu khác như Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ cũng đứng lên đả kích Giàu khiến Giàu đã phải hằn học nhưng cuối cùng cũng phải đồng ý từ chức chủ tịch và nhường lại cho Phạm Văn Bạch, theo sự đề cử của Trần Văn Ân và Dương Văn Giáo. Giàu xuống làm phó chủ tịch nhưng vẫn giữ chức Ủy trưởng Quân sự. Ðến 9 giờ tối bỗng có Lý Huê Vinh, phụ trách Công an của Dương Bạch Mai và Trần Văn Giàu đến trao cho Giàu một điện tín báo tin “Hòa Hảo sẽ nổi dậy chiếm cứ Cần Thơ”. Cuộc biểu tình dự trù ngày 8 tháng 9 ở Cần Thơ là một biến cố chống lại sự độc tài của Công sản Ðệ tam, quyết gạt ra ngoài các thành phần của Mặt trận Quốc gia Thống nhất vốn dĩ đã ra đời từ trước. Cuộc biểu tình gần 20 chục ngàn tín đồ là một biểu dương lực lượng dân sự để Pháp thấy sức mạnh quần chúng ủng hộ độc lập. Các khẩu hiệu không bao giờ có ghi “đả đảo Việt Minh” mà trái lại vẫn ủng hộ chánh phủ cách mạng nhưng đòi hỏi phải có sự cải tổ để chứng tỏ tinh thần đoàn kết trong chánh quyền. Trần Văn Giàu một lần nữa đã phản ứng côn đồ, đập bàn hỏi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ: “Ông Trưởng giáo nghĩ sao đây?”.


Huỳnh Giáo Chủ đã ôn tồn trả lời rằng đây là cuộc biểu tình hợp pháp đã có xin phép của Ủy ban Hành chánh Cần Thơ. Không hề có việc chủ trương chiếm Cần Thơ mà chỉ có tính cách biểu lộ quan điểm chống Pháp và chống độc tài, kêu gọi tình đoàn kết dân chúng.


Ngày 8 tháng 9, tin tức từ Cần Thơ cho biết là Trần Văn Giàu đã chỉ thị cho địa phương nổ súng đàn áp tín đồ Hòa Hảo vốn không võ trang, gán cho cuộc biểu tình là có mục đích “đảo chánh, chiếm cứ Cần Thơ”. Nhiều người đã chết và bị thương. Cuộc khủng bố tín đồ Hòa Hảo bắt đầu từ đó, khiến khám đường Cần Thơ không còn đủ chỗ chứa. Cán bộ cao cấp Phật Giáo Hòa Hảo đều bị bắt ở khắp các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên. Châu Ðốc, Sa Ðéc, Vĩnh Long, Trà Vinh... Cán bộ chỉ huy cuộc biểu tình ở Cần Thơ đều bị bắt gồm có Huỳnh Thạnh Mậu, em của Huỳnh Phú Sổ, Trần Văn Hoành, trưởng nam của Trần Văn Soái, Nguyễn Xuân Thiếp, tức nhà thơ Việt Châu, em của nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Nhà văn Việt Châu là đại diện của Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ được phái ra Hà Nội tiếp xúc với Tổng bộ Việt Minh. Cả ba đều bị xử tử ở sân vận động Cần Thơ. Nhà thơ Việt Châu lại được gán cho danh hiệu “trốt kít” (1) phá hoại, mặc dầu trong hàng ngũ nhóm Ðệ Tứ miền Nam chưa bao giờ có sự hiện diện hoạt động của Việt Châu!


Trong đêm 9 tháng 9, Trần Văn Giàu chỉ thị cho Lý Huê Vinh bao vây trụ sở Việt Nam Vận Ðộng Hội ở đường Miche (Phùng Khắc Khoan) để bắt Huỳnh Giáo Chủ. Quốc gia Tự vệ cuộc của Nguyễn Văn Trấn, Công an của Lý Huê Vinh, Thanh niên Tiền phong đã được huy động bao vây trụ sở đường Sohier (Tự Ðức) nhưng không bắt được Ðức Thầy!


Ngày 10 tháng 9, phái bộ Gracey yêu cầu Lâm Ủy Hành Chánh phải dời về Tòa Ðô sảnh và nhường Dinh Thống soái lại để họ đặt Tổng Hành dinh.


Kể từ 13 tháng 9, là ngày tướng Anh, Douglas Gracey đến Sài Gòn, Công an của Trần Văn Giàu bắt đầu tìm bắt các nhân sĩ miền Nam như Vũ Tam Anh ở xóm Thơm, Trần Quang Vinh, Hồ Văn Ngà, Bùi Quang Chiêu, Lương Trọng Tường...


Ngày 16 tháng 9, quân đội Anh, Ấn bắt đầu được không vận thêm đến Sài Gòn. Một bộ phận nhỏ của quân Pháp gồm một Ðại đội thuộc 5èợ R.I.C (Cinquième Régiment d’Infanterie Coloniale) nhân dịp này đã theo chân quân đội Anh-Ấn âm thầm đến Sài Gòn. Người điều khiển toán này là Ðại tá Rivière.


Kể từ ngày 12 tháng 9, tướng Gracey đã cho lính Ấn Gurkhas chiếm đóng các bót cảnh sát quan trọng, nhà Băng Ðông Dương và Ngân Khố... và chỉ thị cho quân đội Nhật phải để Pháp giữ Bến tàu Khánh Hội, Hải Quân Công Xưởng và Kho đạn đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các toán võ trang của Trần Văn Giàu chỉ còn đóng ở Tòa Ðô Chánh và vài bót cảnh sát nhỏ khác.


Ngày 14 các toán Công An của Dương Bạch Mai bao vây trụ sở của Ủy ban Nhân dân Tân Ðịnh thuộc nhóm Liên minh Cộng sản, Ðệ tứ Quốc tế của Lư Sanh Hạnh, tịch thâu các máy in cùng vũ khí.


Những người bị bắt trong vụ này bị giam ở Khám Lớn và sau được quân đội Anh Ấn giải giao cho Pháp; nếu không chắc hẳn đã bị Dương Bạch Mai thủ tiêu!


Ngày 16 các đảng viên Ðệ tam bị giam ở Côn Ðảo được đưa về đất liền gồm có Tôn Ðức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh v.v...


Ngày 17 trong khi dân chúng Sài Gòn hưởng ứng lời kêu gọi Tổng Ðình công của Ủy ban Nhân dân Nam bộ, những người sanh sống gần Ba Son đã chứng kiến thấy một số quân nhân Pháp trang bị vũ khí đã xuất phát từ Hải Quân Công Xưởng. Thái độ dung túng giúp Pháp trở lại Ðông Dương của Phái bộ Anh đã bắt đầu gây hoang mang và căm phẫn trong dư luận quần chúng.


Ngày 20, Tướng Gracey ra thông cáo cấm phát hành báo Việt ngữ, cấm mang vũ khí... Ngày 21 lại tuyên bố Thiết quân luật trong vùng Sài Gòn- Chợ Lớn, Tân Bình, xử tử hình các hoạt động phá hoại, cướp bóc... Quân đội Anh Ấn đến chiếm Khám Lớn Sài Gòn, thả các quân nhân Pháp bị Công An Dương Bạch Mai bắt trong tuần trước. Gracey lại thỏa thuận để Ðại tá Pháp Rivière trang bị súng ống cho 1500 quân nhân Pháp, tù binh của quân đội Nhật trước kia.


Những tình trạng dầu sôi lửa bỏng đã đưa đến quyết định phải khuyên dân chúng tản cư ra khỏi thành phố. Người Pháp nhận thấy đã đến lúc họ có cơ hội tái chiếm Sài Gòn.


Bốn giờ sáng ngày Chủ nhật 23 tháng 8, quân đội Pháp xuất quân đánh chiếm các cơ sở Cảnh sát, sở Mật thám, Ngân Khố, Bưu Ðiện và... Tòa Ðô sảnh, cơ sở của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ.


Trang sử Kháng Chiến Nam Bộ mở đầu từ đêm này. Trong không khí hào hùng toàn dân quyết tâm chống lại sự tái xâm lăng của thực dân Pháp, cái chết của nhà ái quốc Tạ Thu Thâu bị giết hại ở Quảng Ngãi đã bị chìm đắm trong thời cuộc nhiễu nhương. Nhà cách mạng có uy tín lớn ở miền Nam, sau khi Nguyễn An Ninh đã chết trong nhà tù Côn Ðảo, đã bị một tập đoàn độc tài cuồng tín theo chủ trương Stalin âm mưu thủ tiêu, để dành toàn quyền hành động, đưa đất nước vào một cuộc phiêu lưu lịch sử theo xu hướng của họ!


Việc ám hại Tạ Thu Thâu ở Quảng Ngãi đã là bước đầu tiên thi hành chánh sách triệt tiêu hầu hết các đối thủ thuộc Ðệ Tứ, theo chỉ thị của Stalin đối với những người Cộng sản theo chủ trương của Trotsky. Ngày 10 tháng Năm năm 1939 Nguyễn Ái Quốc đã viết ba lá thư từ Trung Quốc gởi về cho các bạn đồng chí Cộng sản ở Việt Nam. Ba bức thư đều được ký dưới tên Line, gởi đi từ Kweilin với những lời lẽ, luận điệu y hệt như Stalin đã viết trên báo Prada ngày 14-2-1937: “Chủ nghĩa trốt-kít dùng phương pháp đấu tranh hèn hạ nhất, nhơ bẩn nhất, khốn nạn nhất... Nấp sau bóng tối, đàn chó trốt-kít tụ tập những kẻ đầu trâu mặt ngựa, những đứa không còn phẩm giá con người... Chúng làm gián điệp... Ðó là phương pháp hành động của bọn chó săn trốt-kít ”. Trong các bức thư, Nguyễn Ái Quốc cũng lập lại các chữ “đàn chó”, “nhơ bẩn”, “ghê tởm”, ”gián điệp”, “mật thám”, “tay sai cho phát xít” của Stalin. Chỉ có các chữ “đầu trâu mặt ngựa” được thay bằng “một lũ bất lương”. Hồ Chí Minh viết (2): “Bọn tờ-rốt-xkít... chỉ là những bè lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát xít Nhật và của chủ nghĩa phát xít quốc tế... Ðó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất..., bọn tờ-rốt-xkít ăn lương của tụi Nhật... ”. Trong tờ trình Ban Chấp Hành Quốc tế Cộng sản năm 1939 (3), Nguyễn Ái Quốc viết: “Ðối với bọn trôt-kít, không thể có một thỏa hiêầp nào, một nhân nhượng nào cả. Phải tìm mọi cách lột mặt nạ chúng như bọn tay sai của phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”. Các bức thư trên đã đưa đến việc chấm dứt cuộc hợp tác Ðệ Tam - Ðệ Tứ trong việc đồng thuận chống thực dân Pháp trong phong trào La Lutte chống thực dân Pháp. Các nhân sĩ miền Nam, những người có óc bén nhạy chánh trị, đã quyết đoán là Nguyễn Ái Quốc, nhân viên trung thành phục vụ Ðệ Tam Quốc Tế đã bắt đầu thi hành các chỉ thị của Stalin ở Việt Nam!

Chú thích:


1. “Khoảng ngày 8 hoặc 9 tháng 9 năm 1945, trong khi Huỳnh Phú Sổ tham dự hội nghị cải tổ Ủy ban hành chánh Nam bộ thành Ủy ban nhân dân, bọn phản động trong đạo Hòa Hảo đã cử tên tờ-rốt-kít Nguyễn Xuân Thiệp, đại diện cho trung ương Hòa Hảo làm tổng chỉ huy cuộc bạo động lật đổ chánh quyền cách mạng ở Cần –thơ...” Cách Mạng Tháng Tám, Quyển II, nhà xuất bản Sử học, Hà-nội, 1960, trang 360.
2. Ba lá thư trong “Hồ Chí Minh toàn tập” (tập 3, trang 87-98-99-109-113).
3. “Hồ Chí Minh”, bản tiếng Pháp, tập 2, trang 22 (nhà xuất bản Ngoại văn, Hà Nội, 1962).

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu