Giới thiệu

HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ – Tập III (Kỳ 22)

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 1 năm 2011

Kỳ 22

Sau đó ít lâu, Ðào Duy Anh ở Hà nội vào tìm tôi. Hôm đó, gần bảy giờ, tôi đương ăn sáng thì thấy một ông già tóc râu bạc phơ, lùn, to xương, đứng ở ngoài sân, nhìn qua cửa sổ có lưới sắt, hỏi tôi:
- Ông Nguyễn Hiến Lê có nhà không?

Tôi không biết là ông, mà không muốn tiếp người lạ, nên đáp:
- Không. Ông ấy đi Long xuyên rồi. Chưa biết bao giờ về.

Ông quay ra.

Ít bữa sau, ông trở lại, gặp nhà tôi, xưng danh, nhà tôi cho tôi hay, tôi ở trên lầu xuống tiếp liền.

Hỏi nhau về gia đình, hoạt động văn hóa của nhau, rồi nói chuyện về thời cuộc. Ông khuyên tôi nên coi các cán bộ ở bưng về như con cháu mình, tìm hiểu họ chứ đừng trách họ. Họ gian lao chiến đấu cả chục năm, nay thành công thì tất nhiên muốn hưởng lạc, nắm quyền và tin chắc rằng chính sách của họ đúng, phải có tin như vậy mới làm việc được. Họ ít được học, không có kinh nghiệm về hành chánh cho nên phải dò dẫm. Khi ra về ông hỏi con trai tôi ở đâu, tôi đáp làm kỉ sư bên Pháp, ông bảo: “Tốt, Pháp là một nước văn minh”.

Tôi hỏi ông:
- Làm sao anh biết tôi mà lại thăm?

Ông đáp:
- Tôi vô đây mục đích là kiếm tài liệu viết về các trí thức tiến bộ miền Nam. Khi tới Huế, tôi đã nghe nhiều người nói về anh; tới Nha trang lại được Quách Tấn khuyên vô Sài gòn, nên lại tìm anh trước hết, sau cùng tới Sài gòn, Phạm Văn Diêu cũng bảo vậy và cho tôi địa chỉ của anh.

Năm đó tôi gặp ông một lần nữa, tặng ông ít cuốn sách: Tô Ðông Pha, Sống đẹp. Bảy ngày trong Ðồng Tháp Mười..., ông tặng lại tôi cuốn Tự điển truyện Kiều (viết công phu, nhưng phần hiệu đính sơ sài quá) soạn xong đã từ lâu, đưa nhà xuất bản, bị họ dìm cả chục năm, sau nhờ thủ tướng Phạm văn Ðồng can thiệp, họ mới in cho. Sách mới phát hành mấy tháng thì hết.

Năm sau ông lại vô Sài gòn, chúng tôi gặp nhau vài lần.

Năm 1978, ông trở vô một lần nữa, tôi mời ông ở lại chơi ít ngày, được biết rõ ông hơn. Ông ân hận rằng có hồi làm chính trị, thất bại, tự xét không làm chính trị được, từ đó chuyên về văn hóa. Ông có mặc cảm vì đã nhúng tay vào vụ Nhân văn, Giai phẩm mà bị dìm trên mười năm; ông bất mãn xã hội miền Bắc: con người không có tình nghĩa, trẻ con, thanh niên hư hỏng; cán bộ có tài năng không được trọng dụng (một người con trai ông học ở Nga về, làm phó viện trưởng viện Nghiên cứu nông nghiệp (?) mà ở dưới quyền một ông chánh không biết gì về môn đó); sự kiến thiết rất chậm, lạc hậu hơn miền Nam nhiều; đường sá Hà nội bẩn thỉu, nhà cửa cũng vậy, xe cộ rất thiếu; ông chán nản tới mức ngại rằng ba chục năm nữa, kinh tế vẫn chưa tiến được bao nhiêu, và xã hội chủ nghĩa vài trăm năm nữa vẫn chưa xây dựng xong, mình sẽ bị phương Tây bỏ lùi sau rất xa. Bấy giờ tôi mới thấy những lời ông khuyên tôi năm 1975 nên khoan dung với các cán bộ ở bưng về chỉ để an ủi tôi thôi, chứ ông không có ý bênh vực họ, mà biết rõ rằng đường lối của họ sai, họ đã nhắm mắt theo Trung hoa.

Năm 1979 ông lại vô Sài gòn, ở sáu bảy tháng, nhưng tôi bận việc, ít có dịp gặp ông. Ông mất một lá phổi, hơn tôi bảy tuổi mà còn mạnh quá: nói chuyện suốt ngày được, chỉ ngồi nghe ông tôi cũng thấy mệt. Ông mượn tôi mấy cuốn sách Trung hoa về Hàn Phi và bản thảo tôi viết về Hàn Phi để kiếm tài liệu viết về Mao Trạch Ðông mà ông cho là “Hàn Phi cộng với Tần Thủy Hoàng”.

Tôi được đọc một tập hồi kí khoảng 50 trang đánh máy chép lại những hoạt động chính trị và văn hóa của ông từ hồi trẻ (khi thôi dạy học) đến 1970. Cơ hồ ông muốn minh oan rằng ông suốt đời trung thành với cách mạng, và ân hận đã không đứng ngoài vụ Nhân văn, Giai phẩm (1). Ông viết được khoảng 40 tác phẩm (kể cả những tập chưa in (như dịch Ðạo đức kinh, dịch Thi kinh, dịch thơ Ðường...), chuyên khảo về sử, hiệu đính văn thơ nôm (truyện Kiều, Hoa tiên...), và nghiên cứu về chữ nôm. Hồi dạy sử ở Ðại học Tổng hợp Hà nội, ông đào tạo được ba nhà biên khảo về sử: Hà văn Tấn, tác giả cuốn Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, Phan Huy Lê, tác giả cuốn Lam sơn khởi nghĩa, và Trần Quốc Vượng, người soạn chung với Vũ Tuân Sáu cuốn Hà nội nghìn xưa. Ông là học giả siêng năng và có uy tín nhất miền Bắc.

Hè năm 1981, ông vô Nam nữa, ở năm sáu tháng, đi thăm Rạch giá, Long xuyên, lại ở chơi một ngày với tôi tại đường 26 tháng 3. Trong lúc tâm sự ông tỏ vẻ buồn về thời cuộc, hi vọng có sự thay đổi lớn; và bảo càng đọc tác phẩm của tôi ông càng thấy thích, thèm một cuộc đời viết văn, tự do, độc lập như tôi. Chính ông cũng đã sống một cuộc đời như vậy khi ông mở nhà xuất bản Quan hải tùng thư, còn bà thì mở tiệm sách ở Huế. Ông tiếc thời đó chăng?

Quê ông ở làng Thanh oai (Hà đông), hồi nhỏ học ở Thanh hóa rồi Vinh; sau dạy học ở Trung (Quảng trị?), bà là con một vị tổng đốc ở Huế, cũng có một thời dạy học. Con cái thành tài hết. Em ruột có vài người làm cán bộ cao cấp.

Mấy năm 1975-1979 tôi còn được gặp non mười nhà văn và học giả miền Bắc như Vũ Tuân Sáu, bạn học trường Bưởi của tôi, có cử nhân luật, đọc thông chữ Hán, chữ Nôm, chuyên biên khảo về danh nhân và bia Hà nội; Thạch Giang, chuyên nghiên cứu chữ Nôm và truyện Kiều; Hoàng Phê soạn tự điển Việt; Hướng Minh, bạn học trường Bưởi, dịch sách Pháp và viết báo, v.v...

Có vài người ngỏ ý muốn lại thăm tôi, tôi nhờ bạn từ chối khéo cho. Ai lại thăm tôi cũng niềm nở tiếp, nhưng không đáp lễ ai cả.

Xét chung, các học giả miền Bắc có cảm tình với tôi, thích lối viết “non comformiste” của tôi, mà chính quyền đối với tôi cũng có biệt nhãn. Sở Thông tin văn hóa thành phố coi tôi là một nhân sĩ; sở Tuyên huấn thành phố có lần phái một nhân viên lại thăm tôi; nghe tôi nói sức khỏe mỗi ngày một suy, nhân viên đó ngỏ ý muốn giới thiệu tôi để vào điều trị ở bệnh viện Thống nhất (bệnh viện cho cán bộ cao cấp, nhiều dụng cụ, thuốc men nhất miền Nam). Tôi từ chối, tự xét bệnh không nặng, có thể điều trị ở ngoài được.

Khi nhân viên đó ra về, ông Ðào Duy Anh (lúc đó đương ở chơi tôi), hỏi tôi:
- Người ta săn sóc sức khỏe của anh như vậy mà sao anh tỏ vẻ lơ là?

Tôi đáp:
- Tôi có công gì với cách mạng đâu mà vô đó nằm? Hưởng một ân huệ mà mình không đáng hưởng, tôi cho không phải là phúc. Vô đó, người ta gọi tôi là đồng chí, tôi sẽ mắc cỡ. Tôi đâu phải là đồng chí của họ.

Ông bảo:
- Tiếng đồng chí bây giờ chỉ như tiếng ông thôi, ai cũng gọi là đồng chí cả.

Tôi nói tiếp:
- Với lại nhận ân huệ của người ta, khi người ta sai bảo việc gì, hay chỉ mời dự một buổi hội họp để nghe ý kiến thôi, mình làm sao từ chối được? Tôi chỉ mong được sống yên ổn, không ai nhắc tới, không ai nhớ tên tôi nữa.

Ông làm thinh.

Khi có phong trào vượt biên rầm rộ (có tháng 65.000 người bỏ quê hương) (2), hai ba cơ quan cho người lại dò xét xem tôi có ý đi ngoại quốc không, và khuyên tôi đừng nên đi đâu cả. Tôi bảo họ: “Nếu tôi muốn đi Pháp thì tôi đã đi từ lâu rồi, vì tôi có đủ điều kiện để đi theo cách chính thức”.

Tôi biết thái độ của chính quyền đối với hạng nhà văn miền Nam mà họ gọi là “tiến bộ” như tôi. Cứ yên ổn sống, đừng thắc mắc gì cả, vài ba năm xuất hiện một lần trong một hội nghị nào đó, chẳng cần đưa ý kiến, hoặc viết một bài báo ngắn gì cũng được, ngắn thì tốt hơn, vô thưởng vô phạt, để tỏ rằng mình còn ở trong nước và hợp tác với chính quyền, như vậy là được rồi; còn đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, đã có Ðảng chủ trương, hạng trí thức, tiểu tư sản không biết gì, đừng nên xen vào.

*
* *

Năm 1976 tôi lại khạc ra máu như năm 1954, hồi mới lên Sài gòn, nhưng lần này nhẹ hơn. Tôi uống đọt cây đùm ruột một hai lần thì hết. Có lẽ chẳng uống cũng hết. Bác sĩ Liêu Thanh Tâm rọi phổi, chụp hình quang tuyến, so với năm 1954 thấy không tăng, nên tôi chỉ cần nghỉ ngơi và uống ít thuốc bổ. Bác sĩ Trần Ngọc Ninh hay tôi đau, lại thăm và giúp tôi vài việc.

Nhờ bị bệnh đó, tôi xin phép miễn dự Ðại hội Văn nghệ thành phố để thảo luận về đường lối văn nghệ. Hội họp làm ba đợt, mỗi đợt khoảng một tuần, cho vài trăm nhà văn, đãi ăn bữa trưa. Các nhà biên khảo dự đợt đầu, rồi tới các tiểu thuyết gia, thi sĩ v.v... Gọi là thảo luận chứ thực ra là ủy ban của hội đem ra mổ xẻ tác phẩm của một số nhà văn, có ý mong họ tự kiểm thảo. Ða số nhà văn trách ủy ban không hiểu hoàn cảnh của họ: ở dưới chế độ kiểm duyệt của chính phủ Thiệu, không thể muốn viết gì thì viết được; một vài nhà văn còn can đảm nhận rằng đã viết những tác phẩm mà cách mạng gọi là đồi trụy, nhưng như vậy không phải là một tội; những truyện đó tả đúng xã hội thời trước và ở trong một xã hội như vậy, nhà văn có hóa đồi trụy cũng là một chuyện thường. Sở dĩ họ có thái độ can đảm đó là vì thấy nhiều nhà văn ngoài Bắc cũng chẳng trong sạch, cao thượng gì cả, tư cách còn rất kém nữa.

Rốt cuộc, ba tuần kiểm thảo chẳng đi tới đâu, so với phong trào tự chỉnh huấn ở Bắc năm 1953 thì dễ dãi, cởi mở hơn nhiều, mà đa số các nhà văn trong này có thái độ đàng hoàng hơn nhà văn ngoài Bắc (coi phụ lục). Nhưng sau đó cũng khoảng hai mươi nhà văn bị đưa đi “cải tạo”, một số được thả về sau ba bốn năm như Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Tạ Tị; một số chết trong trại như Nguyễn Mạnh Côn... hoặc gần chết mới được thả về, tới nhà được vài ngày thì chết như Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương (Vũ chỉ bị giam ở khám Chí hòa chứ không phải đi trại cải tạo), hiện (1981) còn một số ít chưa được về như Duyên Anh. Nghe nói, Doãn Quốc Sĩ có thái độ “kẻ sĩ” không nhận lỗi, vẫn chủ trương chống cộng, vậy mà được về sớm, không hiểu tại sao. Ông là rể của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ ở Bắc, Võ Phiến, Lê Tất Ðiều, Nguyên Sa... đã di tản kịp trước ngày 30-4-75. Mai Thảo cũng vượt biển rồi.

Năm 1980, nhà xuất bản Văn Hóa - Hà nội, xuất bản cuốn “Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận tư tưởng” Tập I do Vũ Hạnh, Thạch Phương, Huy Khánh, Thùy Dương, Phan Ðắc Lập, Trần Văn Giàu viết để mạt sát Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Hồ Hữu Tường, Nhất Hạnh, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Nhã Ca (Vũ Hạnh viết về Võ Phiến, Trần Văn Giàu viết về Nhất Hạnh). Nhà xuất bản hứa sẽ cho ra tập II viết về Phạm Duy, Chu Tử, Tạ Tị, Ðinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền, Phan Nhật Nam, Thanh Quang, Xuân Vũ, Thảo Trường, Hà Huyền Chi, Tô Văn, Lê Xuyên...

Suốt mười mấy tháng, từ 5-75 đến mùa thu 76 tôi sống tương đối thảnh thơi: sách của tôi được phép bán, và nhiều người mua, cả Bắc lẫn Nam, giá mỗi ngày mỗi tăng (năm 1981 Ðắc nhân tâm ở chợ sách cũ, giá 50 đồng, năm 1975 chỉ có 2 đồng). Tôi không làm gì cả, nằm nhà dưỡng sức, vài ba ngày lại tòa soạn Bách Khoa cũ một lần để gặp các bạn văn (ngày nào cũng có 5-6 anh em cầm bút lại đó tán gẫu); rồi dạo khu chợ trời từ đường Lê Lợi ra tới Chợ cũ, đường Nguyễn Huệ. Mỗi tuần đi họp tổ một lần. Mỗi tháng lại chen chúc, chờ đợi ở Ngân hàng để xin rút ra 60 đồng cho hai vợ chồng.

(Còn tiếp)

(1) Ông mất chức giáo sư Ðại học, chỉ còn là một chuyên viên ở viện Sử học, dưới quyền Nguyễn văn Tân (?) sức học kém.
(2) Năm 1980 trung bình 4.000 người đi chui mỗi tháng. Nghe nói năm 1981 ở Mĩ đã có từ 300.000 đến 500.000 người Việt, ở Pháp 130.000 người mà khoảng 100.000 người qua sau ngày 30-4-75.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu