Giới thiệu

Thịt cầy

Thứ Sáu, ngày 10 tháng 12 năm 2010

VÕ PHIẾN

(Tiếp theo và hết)

– Bạn có quyền thêm một dữ kiện nữa. Miễn đừng góp “thiển ý”.

– Ở Mỹ con dog lúc nào cũng là con dog. Ở ta có khi nó là con chó, có khi nó là con cún, có khi nó lại là con cầy. Cún là chó con; con hay mẹ, sự phân biệt ấy không quan trọng. Nhưng cầy, chữ cầy rất đáng để ý: nó giết con chó. Vì cầy là tiếng gọi con chó thịt. Là tiếng gọi con chó trong tư cách... thực phẩm. Ta nuôi con chó, nhưng khi ăn ta ăn thịt cầy. Tiếng cầy là bản án tử hình xử chó. Sao vậy? Tại sao không có tiếng gọi riêng con bò, con gà để ăn thịt, con vịt thịt, con heo thịt, (những tiếng như con biếc, con ghiếc, con viếc, con hiếc chẳng hạn?). Thiết nghĩ ấy là vì miếng thịt chó ta phải gọi là thịt cầy mới tiện bỏ vào mồm. Nếu không, thấy ghê ghê thế nào. Con chó Ðông phương nó bị hất hủi, nó ăn tạp lắm, nó lục lọi các đống rác, nó thơ thẩn ngoài đồng tìm chất thừa chất bẩn thỉu... Chó nó ăn cái ấy, mình lại đi ăn chó à? Ăn phải ăn cầy cơ. Trước khi dùng, phải thăng cấp cho nó.

Ở Âu Mỹ, con chó nó là... pet, là con bạn, là cục cưng. Ở đó địa vị nó cao hơn con vật; ở ta nó thấp hơn con vật.

Ở Âu Mỹ nó là con bạn, là cục cưng. Ở ta, khi có ai hét vào mặt kẻ khác: “Ðồ chó!” thì đó không hề có nghĩa là: “Ðồ bạn!” Ðồ chó còn tệ hơn là đồ mèo, đồ gà...

Ðồ chó, tởm quá, không xơi được; nhưng cầy thì xơi được. Khi ta bỏ một miếng thịt cầy vào mồm thì ta không làm điều gì sai quấy; nhưng người Mỹ mà bỏ vào mồm một miếng thịt bạn thì trời đất quỷ thần nào dung thứ! Chuyện không quan niệm nổi.

Do đó chuyện thịt cầy giữa ta và Mỹ không phải là chuyện khẩu vị, cũng không phải là chuyện tình thương đối với loài vật nói chung. Chẳng qua họ và ta không cùng bỏ vào mồm một món thịt, cho nên phản ứng khác nhau vô vàn. Cho nên trong phản đối của họ có sự giận dữ.

– Này này, tôi cần lưu ý bạn: Bạn từng hứa chỉ có dữ kiện không có giải thích; thế mà dần dà bạn khe khẽ “trộm nghĩ”, khe khẽ đưa “thiển ý”. Liệu có can bạn nổi không đây?

– Bạn can, bạn thiệt thòi.

– Ơ! Khiêm tốn đến thế kia à?

– Nói thế là vì bạn thôi. Vừa rồi bạn tuyên bố rằng tôi nhảm khi tôi chưa hề biện giải. Nếu tiếp tục ngăn cản tôi, hóa ra chúa nhảm là bạn. Hãy để tôi biện giải xong, nếu sai, cái nhảm sẽ thuộc cả về phần tôi, có phải là lợi cho bạn không?

Chúng ta vừa bảo Mỹ xem chó như bạn, đó là căn cứ vào một từ ngữ (pet) đã có từ lâu đời. Dần dần mỗi lúc chó mỗi gần người, sát người. Xung quanh bạn, bạn thấy nhan nhản những bà những cô nuôi đôi ba con chó, gọi chó là con trai, con gái, là lũ con (my son, daughter, kids, children) v.v... Và thực tình họ xem như con, thương như con: có thế mới chôn cất, mới mồ mả, mới gửi xương cốt bên nhau chứ. Như vậy chó không còn là bạn, chó đã được kết nạp làm một thành phần trong gia đình người Mỹ. Vì sao vậy? Chỉ vì gia đình người Mỹ mỗi ngày mỗi thu hẹp lại, trở nên quá nhỏ bé, quá ít người...

– Ðấy! Ðấy! Lại...

– Cấm can thiệp. Cấm đàn áp. Hãy nghe đã. Bạn có tưởng tượng nổi trong một gia đình như nhà mẹ Lê (6), con cái lũ khũ đùm đề như thế, mà bác Lê gái lại có thể gọi một con cún là “con tôi”, mỗi tối cho “con tôi” lên giường nằm bên mẹ không? khi trăm tuổi bác Lê gái yên giấc nghìn thu bên mộ con cún được không? Chuyện ấy thiết tưởng chỉ xảy ra vào trường hợp những bà cụ sống lủi thủi một mình xa con cái, những nàng cao số, long đong, muộn chồng, bỏ chồng, hiếm muộn v.v..., những trường hợp hết sức phong phú trong xã hội Mỹ.

Khi cô đơn quá, kẻ Âu người Á, kẻ trắng người vàng, không ai làm gì khác hơn là quơ vội quơ vàng vào một chút sinh khí cho ấm lòng. Trong một cái truyện ngắn của Linh Bảo, một ông chệt già ở Cựu Kim Sơn, vào những ngày tàn bơ vơ xa quê hương đã nuôi và cưng một cây chuối trong chậu, bình nhật chăm chút cho ăn phân cho uống nước đều đều, lúc gặp chuyện đau buồn thì cụ chệt già mời chuối cùng uống... rượu (7) với nhau. Ở Cựu Kim Sơn có bao nhiêu là chệt già đối ẩm với cây chuối như thế?

Lấy cây chuối làm con còn tệ hơn lấy chó làm con.

– Phen này bạn kẹt với tôi. Bạn bảo gia đình thu nhỏ là lý do, cảnh sống cô đơn là lý do của tình cảm người-chó. Như thế, bạn có ý cho rằng người Mỹ mới kiêng thịt cầy trong thời kỳ hiện đại này chăng? Bởi vì xưa kia đâu phải lúc nào gia đình người da trắng cũng ít người? trong thời nông nghiệp ở đâu đại gia đình cũng đông đảo hơn ngày nay, điều ấy bạn đã biết. Tất nhiên xưa kia người Âu Mỹ đâu thấy cô đơn trong gia đình? Vậy theo ý bạn bắt đầu từ năm nào thì Mỹ kiêng thịt cầy? bạn định giùm tôi một thời điểm kiêng thịt cầy ở Âu Mỹ. Bạn cố gắng giúp cho.

– Bạn hùng hổ cứ như là cộng sản lúc vừa đánh hơi thấy mùi thắng lợi.

Bên Tàu, hơn hai nghìn năm trước từ cái quầy thịt cầy của một nhân vật lẫy lừng là danh tướng Phàn Khoái mùi thịt nướng đã xông lên làm thơm trang sách Tư Mã Thiên. Sử sách Tây phương không có cái may mắn ấy. Hoặc giả sử gia Tây phương thời trước không chú ý đến những việc như thế? hoặc giả người ta có chép nhan nhản mà tôi không hay biết? hoặc giả người da trắng cổ thời có thói quen nướng cầy cách lén lút? v.v... Chuyện đâu còn đó. Sự thực rồi sẽ có ngày phát hiện. Ngay lúc này hãy giả thiết là người da trắng chưa từng ăn thịt cầy bao giờ. Như thế có gì kẹt cho tôi đâu? Tôi không hề bảo rằng hễ ai không thương chó tất phải xơi thịt chó. Tôi có nói thế đâu? Người da trắng xưa kia rất có thể gia đình sum vầy, vừa không yêu chó quá đáng như ngày nay, lại vừa không ăn thịt chó, có sao? Tốt thôi.

Nếu bấy giờ, xa xưa, da trắng da vàng kẻ ăn người không, có khác nhau là do khẩu vị mà thôi. Ai thích gì ăn nấy, không giận nhau, chê nhau là văn minh hơn kém.

Nhưng cái khác biệt hiện thời không giống như cái khác buổi ấy. Vấn đề chúng ta nêu lên đây là cái khác hiện thời. Hiện thời có yếu tố tình cảm xen vào: ta xơi cầy là họ uất người lên đấy. Sự tình bắt đầu từ bao giờ. Xin thú thực: Không rõ. Tôi ngờ rằng cái nghĩa trang đầu tiên dành cho chó mèo ở Âu Mỹ chắc cũng không quá trăm năm. Người Âu Mỹ giã từ chế độ kinh tế nông nghiệp đã lâu, giã từ cuộc sống đồng quê mà về đô thị đã lâu, trong truyện của họ từ lâu lắm không thấy có những gia đình nườm nượp như gia đình họ Giả trong Hồng Lâu Mộng. Trong tiếng nói của họ, một vết tích thành ngữ tương đương với “tứ đại đồng đường” không hề nghe thấy bao giờ. Gia đình da trắng teo tóp đến đâu thì địa vị con chó cao lên đến đó, tôi chắc thế. Chuyện tình cảm nó dần dà, nó lặng lẽ: đã yêu muốn chết mà lắm khi vẫn chưa biết là mình đã yêu, thỉnh thoảng còn đòi để hỏi lại con tim xem đã v.v..., bạn đừng nài ép tôi định rõ ngày giờ của tình yêu, kể cả yêu chó. Kể từ năm Mão? năm Tuất? giờ Dần? giờ Tị? nào ai biết được!

Còn chúng ta da vàng, có thể một phần vì bẩm chất sai con, mắn con: ngay từ buổi sơ khai, cái gì mà đấng tổ tiên đã nêu ngay gương lành, cho ra một lượt trăm trứng nở trăm con. Một gia đình như thế dầu phân đôi cũng không còn một chỗ trống nào cho con chó chen vào. Nguyên tiếng trẻ khóc đủ làm nó nhức óc hoảng hồn.

Thế rồi, đến mãi ngày nay nông nghiệp vẫn còn địa vị quan trọng, nông dân vẫn còn chiếm đa số, nề nếp sinh hoạt nông thôn và tâm lý nông dân vẫn còn sâu đậm. Các nhân vật tiểu thuyết của thế hệ Nhất Linh thỉnh thoảng lại có người than như bộng về cái “số” đông con; thế rồi các ông bà bảo trợ Mỹ đến thăm những gia đình thế hệ người Việt tị nạn lâu lâu bắt gặp một sân quế hòe nghìn nghịt.

Ở những quốc gia đã bước sang nền kinh tế kỹ nghệ, người ta đổ về đô thị, gia đình co rút lại. Xu hướng chung ở Âu Mỹ là thế; nhưng ở ta phương thức sản xuất Ðông phương kéo dài chế độ kinh tế nông nghiệp, kéo dài chế độ chính trị phong kiến, kéo dài chế độ đại gia đình... Những cái ấy còn tồn tại không dứt, thì chó còn là... đồ chó, còn bị khinh khi, còn đứng ở bậc thấp nhất của cái thang giá trị các loài súc vật.
Tuy nhiên hồi gần đây rõ ràng là nếp sống đô thị đã tràn lan rộng rãi sang lắm nước Á châu. Cái rét đô thị thấm vào thấu xương số người càng ngày càng đông đảo ở Ðông Kinh, Thượng Hải, Hương Cảng, Tân-gia-ba v.v... Hoàn cảnh đặc biệt của những tập thể lưu vong, di cư, tị nạn v.v... càng tăng thêm mức độ giá rét... Do đó người Tàu già ở Hương Cảng đã từ cây chuối hài hước tiến tới một phát kiến sáng giá: là ôm lấy con chim. Con đường Honglok về phía Cửu Long là cả một thế giới chim: lớn có, nhỏ có, đủ màu, đủ loại, giống hát hay, giống múa đẹp, giống màu rực rỡ v.v... Ở đây có vô số kiểu lồng chim từ thượng vàng đến hạ cám, có những món đồ đựng thức ăn thức uống chạm trổ vẽ vời công phu, cầu kỳ v.v... Các ông cụ mò mẫm đến đây, dạo qua dạo lại ngày này sang ngày khác, ngắm nghía, chọn lựa, rồi móc hầu bao rước chim về hầu hạ phụng dưỡng. Cho ăn cho uống, quạt nồng ấp lạnh. Sắm những chiếc bình xịt nước li ti cho mát chim vào những hôm oi bức. Ngồi với chim hàng giờ. Mới tờ mờ sáng, các cụ ho hen xong, khạc nhổ xong, liền xách lồng chim rời căn phòng nhỏ hẹp của một cao ốc, xuống đường mua một tờ báo, tìm đến một công viên, người và chim cùng hưởng chút khí trời, rồi các cụ xách lồng chim vào tiệm uống cà-phê, trò chuyện với nhau, đấu chim đấu lồng với nhau... Suốt ngày người đâu chim đó. Trong tiệm, trên xe, chỗ nào cũng phải trù liệu sẵn móc cho các cụ treo lồng chim...

Hương Cảng Ðông phương Da vàng đã đến nông nỗi ấy, thì Âu Mỹ há giữ nguyên vị trí cũ sao? Quả nhiên, Mỹ lại nhảy vọt.

Kỹ nghệ tân tiến và cuộc sống đô thị lại làm phát sinh thêm những diễn biến mới: Năm 1960 trong tổng số các cuộc sinh nở ở Mỹ con số sinh ra do phụ nữ không chồng chỉ có 5.3%, năm 1986 tỉ số ấy lên đến 23.4%. Người ta mỗi lúc mỗi ngại hôn nhân. Số người Mỹ ngại ngùng ấy tăng gấp bốn lần trong vòng hăm sáu năm. Nàng không chồng chàng không muốn vợ, cảnh nhà đâm ra đơn chiếc. So sánh các loại gia đình: gia đình nhiều người, gia đình một cặp, và gia đình một người, theo thống kê năm nay (8) thì phát triển nhanh nhất là loại gia đình... một người! Ðó là chiều hướng phát triển ở mọi nước kỹ nghệ (ngoại trừ Nhật Bản, tại đây non hai phần ba số người già còn sống chung với con cái.)

Tình huống mới có nhu cầu mới: một con bạn chó chưa đủ. Con chim của các cụ già Hương Cảng trở thành đấng anh hùng của thời đại mới. Trước kia nuôi chim trong nhà là chuyện lai rai, cuối thập niên 80 nó tiến vụt lên như chớp. Giữa năm 1988 khắp Hoa Kỳ có gần 58 triệu con mèo, 49 triệu rưởi con chó nuôi trong nhà. Cùng năm ấy, số chim nuôi chưa tổng kết được, chỉ có con số khá “đại khái” từ 45 đến 100 triệu con. Dịch vụ kinh doanh về chim, tính cả bán chim, bán thức ăn cho chim, lồng chim v.v..., số thu lên đến mười tỉ một năm. Nhưng theo ước tính thì thập niên 90 mới đích thực là thập niên của chim. Bấy giờ chim là số 1, là vô địch.

Mỹ đã say mê món nào là say mê ra trò. Chim bé cỡ 10$, 20$ một con, có; yến 30$, 40$ một con, có; két Harlequin macaw cỡ 2,500$ một con, có; mà con két Hyacinth macaw ngót 30 inches giá 10,000$ một con cũng có nữa. Cục cưng mà. Luận về hiện tượng chơi chim, ông Marshall Myers, phó chủ tịch Hội đồng cố vấn ngành chăn nuôi cầm thú để làm bạn trên nước Mỹ, nói quyết rằng đó là hậu quả của lối sống mới, của nếp sống đô thị: thêm nhiều người trong gia đình phải ra ngoài làm việc, thêm nhiều người độc thân, cảnh ở condo, ở apartment, và thì giờ eo hẹp làm cho thiếu chỗ thiếu thì giờ nuôi chó...

Chim thắng chó là lẽ đương nhiên, là xu thế của tương lai v.v...

– Xu thế tương lai... Con người tiến từ chó tới chim...

– Tương lai ấy bắt nguồn từ một nhu cầu nguyên thủy: chút hơi ấm. Con người nguyên thủy đã chịu mất cả một chiếc xương sườn để cho có bạn, có cô bạn xong vẫn thấy không bằng lòng: “Chỉ đôi bạn? thế vẫn còn chưa đủ.” Ðòi thêm con chó. “Một thầy, một cô, một chó bạn”: vẫn chưa đủ. Ðời vẫn lạnh lẽo giá băng. Phải thêm vào đôi ba con chim bên mình... Ôi vũ trụ, ôi càn khôn: rét quá.

Mai kia, con người đô thị trông thấy ai nhai một miếng thịt chim chắc chắn là đứt từng khúc ruột, là gầm lên chê kém văn minh.

– Có “ôi” tức đến kết thúc rồi. Kết thúc chuyện thịt cầy, sẵn trớn ngon lành, ta nhấn ga vọt sang vấn đề thịt chuột, nên chăng?

– Không.

– Thì sang thịt ba ba nhé!

– Không nên.

– Ơ, kỳ thị đến thế sao?

– Không phải. Các thứ thịt khác chỉ là thịt. Riêng thịt cầy là thịt, lại là thơ ca, là kinh tế, xã hội, văn hóa, triết lý (ôi)... Nói chuyện thịt cầy, mình ném bậy một hòn đá mà làm rụng lông được vài ba con chim: Tiết kiệm năng lượng. Nói về các món kia, lãng phí quá.

8 - 1990


1 Thanh hiên thi tập.
2 ‘Thái bình mại ca giả’ (Bắc hành tạp lục). Bốn câu trên có nghĩa: Chẳng thấy cái lệ cung đốn cho thuyền sứ mỗi buổi sáng đó sao? Hết thuyền này tới thuyền khác chở đầy nào gạo nào thịt đến. Người ăn không hết, phải đổ đi. Canh thừa cơm nguội trút cả xuống lòng sông.
3 Năm 1989 tòa án Long Beach có xử một vụ mấy người Miên hạ cờ tây.
4 Thực ra ông Bùi không ăn thịt cầy.
5 Nghĩa: Nghĩ rằng mày là giống súc vật, cũng lông cũng xương giống như con người.
6 Xóm Cầu Mới của Nhất Linh.
7 ‘Cây chuối buồn’, Mây Tần.8 của Monthly Labor Review, Bureau of Labor Statistics.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm

Đang tải...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu