Tìm kiếm Blog này

PHẠM XUÂN ĐÀI: CHUYỆN ĐÁ BANH

Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018


Tranh của Đinh Trường Chinh - Tháng Bảy, 2018

Lời Tòa Soạn.- Bài dưới đây được viết cách đây đúng 20 năm, nhân World Cup năm 1998 diễn ra tại nước Pháp, và Pháp đã lên ngôi vô địch. World Cup năm nay 2018 được tổ chức lần đầu tiên tại nước Nga, Pháp đã được vào chung kết với Croatia ngày 15 tháng 8, và một lần nữa Le Jour De Gloire lại đến với nước Pháp. Đội Pháp đã thắng Croatia với tỉ số 4-2, đoạt chức vô địch World Cup 2018.
Dù hai thập niên đã qua từ khi bài này được đăng lần đầu trên tạp chí Thế Kỷ 21 số 112, tháng Tám 1998, tâm tình và những vấn đề về bóng đá của người di dân Việt Nam có vẻ vẫn thế (tuy bài có được thêm bớt gọt dũa lại chút đỉnh), chúng tôi xin mời độc giả xem lại... cho vui. DĐTK

World Cup tổ chức ở Pháp năm nay đem lại cho những người đàn ông Việt Nam trung niên đang tị nạn tại Hoa Kỳ ít nhiu thích thú say mê đích thực, sau những năm tháng sống lửng lơ với một cố gắng thích ứng liên tục với một văn hóa mới, một cố gắng mà họ biết không bao giờ đạt tới đích. Tất cả vui thú say mê của một đời người hoàn tất từ thời người ây còn trẻ, và khi đã sống tròm trèm nửa đời rồi mới gặp hoàn cảnh đòi hỏi phải đổi mọi chuyện thì rất khó, nếu không nói là chẳng thể được. Vì thế người ta phải tiếp tục ăn cơm với cá kho, ăn phở, hủ tiếu, bún riêu, mì Quảng, tiếp tục coi video và nghe CD nhạc Việt Nam, tiếp tục xuất bản và đọc sách báo tiếng Việt, tiếp tục xây dựng chùa chin và tu viện Phật giáo... Nói cho lớn lao thì là người ta đang c gắng bảo tồn văn hóa của quê cha đất tổ, nhìn một cách thực tế thì tất cả việc y chẳng qua nhằm đáp ứng nhu cầu sng của chính một lớp người mà thôi. Không thích ứng nổi với cái mới một cách toàn vẹn thì ta bày những gì của ta ra để... ta dùng vậy.

Nhưng riêng về môn đá banh thì người tị nạn tại Hoa Kỳ... thua. Họ có thể tha hồ gào với cái máy Karaoke những bản nhạc Việt mà họ ưa thích một thủa nào, nhưng họ không cách gì đến với môn đá banh, mà những người Việt trung niên y hầu hết đều say mê từ thời còn nhỏ xíu, và được nuôi dưỡng đầy hào hứng khi lớn lên. Nếu anh tị nạn ở bất cứ một chỗ nào trên thế giới khác với Hoa Kỳ thì anh vẫn có thể gần gũi với nim say mê y, và cảm thy thế giới này vẫn có một mẫu số chung mà mình là người lạ đến vẫn có thể tiếp tục chia sẻ. Một người Việt Nam ham đá banh từ ngày nhỏ gặp một người Pháp chẳng hạn cũng cùng một sở thích ấy thì sẽ rất dễ gần gũi nhau. Sân cỏ, luật chơi, kỹ thuật lừa bóng, những cách chơi xu, lòng ham mê, kỷ niệm về các trận đấu... là tài sản chung của hai người dù họ đã sống trong hai xứ sở cách rất xa nhau, với hai nn văn hóa khác biệt. Cùng tôn giáo chưa chắc đã có nhiều điểm chung bằng cùng chơi một môn thể thao, nht là môn thể thao y lại là môn đá banh. Cùng môn chơi loại khác, ví dụ cờ bạc, cũng không thể có gì sâu xa để chia xẻ với nhau như môn đá banh. Khi ra sân tranh nhau trái bóng thì thể xác, tinh thần, tình cảm, tài năng đều được đẩy lên một mức độ thể hiện rất cao, tất cả tổng hợp lại thành một cái vốn tươi sáng lành mạnh gắn chặt với sự sống của một đời người, sẽ ở với người y suốt đời. Nước Mỹ sẽ là một hành tinh lạ đối với một người có một “background” như thế. Đất nước giàu có xinh đẹp này, dân tộc hào hiệp cởi mở này không có quá khứ giống như các dân tộc khác trên thế giới — quá khứ ở đây chỉ xin hiểu một cách đơn giản là những công dân nhỏ tuổi của họ không lớn lên với môn đá banh. Chỉ đơn giản như thế nhưng đã tạo ra một khác biệt ghê gớm, là cả dân tộc này đứng ngoài nhịp đập của trái tim nhân loại khi trên thế giới xảy ra các biến cố về bóng tròn. Khi World Cup đang diễn ra ở Pháp, khi một đường banh “diễm ảo” (xin mượn chữ của ký giả thể thao Huyền Vũ) bay vào lưới, bao nhiêu triệu người từ bất cứ xó xỉnh nào trên quả đất, đúng vào phút, giây, sát na y, cùng một lúc ồ lên suýt soa, thì dân Mỹ không hay biết gì c. Họ đứng ngoài, họ không tham dự vào, mặc kệ cái buồn vui thổn thức của phần nhân loại còn lại. Họ có môn chơi của họ, chơi riêng, chơi một mình. Sự kiện nước này bắt đầu đội bóng tham gia vào World Cup xem ra chưa có ảnh hưởng gì đến trái tim”của người dân Mỹ chính cống cả.

Nhưng một người Việt Nam trung niên di dân tại đất nàv, tức là người Mỹ không chính cống, thì đón chào World  Cup như bắt gặp lại một loại quê hương của mình. Từ khi còn nhỏ xíu anh con trai nào cũng ít nhiều tham gia các trận đá bóng nếu là người Bắc, đá banh nếu là người Trung hoặc Nam. Nếu những người trung niên ấy sinh vào khoảng giữa đến cuối thập niên 30 thì khi vừa lon ton ôm vở đi học đã ở trong không khí hào hứng của phong trào Ducouroy, trong đó môn đá banh lan tràn rất mạnh, đến từng phủ huyện, làng xã, từng trường học, ảnh hưởng ngay đến những lớp nhỏ nhất trong trường.

Thời y trẻ con biết chơi biết chạy là đã ít nhiu biết đá banh, dù dưới những hình thức đơn nhất. Khi đã cắp sách đến trường thì gặp ngay một môi trường thuận lợi để hiểu biết và tham gia môn chơi hào hứng này. Các cậu bé lúc by giờ mới biết ra rằng đây là một môn chơi có luật lệ, và chính khi chơi với luật lệ thì thích thú hơn những trận đá qua đá lại bừa bãi ngoài đường nhiều. Trong sân trường, thường phải chia phe trước khi một trận cầu xảy ra: những người thích chơi đứng thành một đám giữa sân, hai người tương đối lớn và đá hay sẽ đứng đầu mỗi bên và bt đầu chọn cầu thủ cho bên của mình, gọi là "bt phe." Cách chọn khá công bình, mỗi bên luân phiên lần lượt “bắtmột người, cho đến khi đám đông giữa sân được chia hẳn thành hai phe, mỗi bên kéo về một đu sân để dồn quần áo nón mũ thành hai ụ để làm gôn, rồi dàn trận bắt đầu đá.

Họ đá bằng gì? Dĩ nhiên bằng trái banh, nhưng banh của họ rất nhiu loại. Nếu là tập thể các lớp lớn, sẽ có một trái banh loại “demi” nghĩa là banh da có vét-xi bơm hơi đàng hoàng, nhưng nhỏ bằng một nửa banh người lớn. Đó là loại sang. Thường chỉ là banh bằng cao su, lúc mới còn căng cứng đá rất tốt, nhưng chơi một thời gian ngắn cao su trở nên mềm nhẽo, đá nghe lịch phịch và khi rơi xuống đất thì không nảy lên được nữa. Nhưng chẳng h gì, miễn là có một vật tròn tròn để mà tranh nhau đá vào gôn bên kia là vui rồi. Học trò trường nhà quê thì ngay banh cao su cũng là món xa xỉ chỉ ước ao chứ không my khi có được, họ thường dùng trái bưởi để làm banh. Bưởi xanh mới hái trên cây xuống rất cứng và nặng, đá mạnh vào có thể bị sưng chân, vì thế các cầu thủ chân đất ở thôn quê nghĩ ra cách đem nướng trái bưởi trên lửa cho mềm bớt trước khi cho nó ra sân. Nhưng ngay cả bưởi có khi cũng không phải là thứ dễ kiếm và lúc nào cũng có, trong khi đá banh là nhu cầu hàng ngày. Họ bèn tự làm ly banh, với một loại nguyên liệu dồi dào lúc nào cũng có sn trong tầm tay: lá chuối khô và dây chuối. Dùng một vật tròn, có thể là một hòn đất cứng để làm lõi bên trong, họ ly lá chuối khô bao bọc nhiều lớp bên ngoài, khi thành một khối tròn to độ trái bưởi thì họ bắt đầu dùng dây chuối để thắt một lớp bao bọc bên ngoài. Đối với học trò nhà quê, “thắt banh” là một nghệ thuật, nhiều đứa khéo tay đã tạo nên những trái banh lá chuối tròn trịa được thắt chặt bởi một lớp lưới dây chuối dày bọc bên ngoài, đá êm chân mà lại bn. Cần nhất là bền, nếu chỉ mới đá có một lúc mà đã “lòi ruột,” lá đi đàng lá dây đi đàng dây thì chán chết. Nhưng đối với những bàn chân còn non nớt, có được một trái banh te nít cũ là lý tưởng nhất, tha hồ đá không sợ bị hư.

Đám con nít Việt Nam y chơi bóng dưới thiên hình vạn trạng, khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê, trên sân vận động, sân trường, trên hè phố, trên đường làng, trong sân đình, ngoài bãi sông hoặc trên những thửa ruộng mới gặt còn trơ gốc rạ; có nơi được hun luyện chỉ dẫn hẳn hoi và cu thủ được mang giày vải, nhưng phần lớn là “đá rừng” với chân không, và chỉ biết dựa trên một s luật chơi căn bản bất thành văn được truyền từ nơi nọ sang nơi kia. Họ chơi say mê đến quên giờ giấc, trầy da, trặc chân, rách áo là chuyện thường, và nim say mê y sẽ ở lại với họ như nhng kỷ niệm trong sáng nhất trong quãng đời về sau.

Từ trước thập niên bốn mươi cho đến đầu những năm 50, các danh từ, động từ trong môn chơi này hầu hết dùng tiếng Pháp, dĩ nhiên trong đó có nhiu chữ được Pháp hóa từ tiếng Anh, vì môn này do người Anh bày đặt ra. Cả xã hội dùng như thế, và đám trẻ cũng lặp theo, một cách tự nhiên như các từ được Việt hóa. Họ gọi thủ môn là giữ gôn hoặc gạc gôn (garde goal, một chữ nửa Pháp nửa Anh, có nơi còn dùng chữ nửa Việt nửa Pháp là bắt buýt do but, tiếng Pháp dịch chữ goal), trung phong là a văng xăng (avant centre), hậu vệ là a ri e (arrière), phạt góc là cọt ne (corner, tiếng Anh đọc theo kiểu Pháp), đụng tay là manh (main), đánh đu là tết (tête), đá vào gọi là suýt hoặc sút (shoot), và khi đá lọt một bàn thì trước khi dùng chữ “dô!” như sau này, cả bọn phe thắng cùng gào lên “gô...ô...n” giống như anh tường thuật viên người Mễ ở đài KMEX/34, Los Angeles. Khi đám trẻ y lớn lên ở miền Nam thì các thuật ngữ bóng đá dần dần được Việt hóa, và họ quên dần cái mớ chữ lai căng họ đã dùng suốt thời nhỏ tuổi trong các trận thư hùng đầy say mê. Kỷ cương của nn túc cầu min Nam đã làm công việc Việt hóa y, và báo chí và đài phát thanh đã hoàn tất việc phổ biến và thay thế hẳn thói quen dùng tiếng ngoại quốc trong môn chơi này. Có công nhất trong việc phổ biến này có lẽ là Huyền Vũ, người tường thuật các trận đu bóng tròn trên đài phát thanh Sài Gòn. Thính giả say mê lối tường thuật sôi nổi, duyên dáng và chính xác của ông, và người ta thuộc dễ dàng những thuật ngữ mà ông dùng.

Ký giả thể thao Huyền Vũ

Ai là người đầu tiên đã chế ra các thuật ngữ bóng tròn bằng tiếng Việt? Chắc là các vị phụ trách v Thanh Niên và Thể Thao trong chính quyền đệ nhất Cộng Hòa. Nhưng không rõ trước đó các từ này đã được Việt hóa phần nào chưa. Dân chúng Nam phần Việt Nam có khả năng Việt hóa chữ nghĩa ngoại quốc rất tài tình, hơn hẳn Bắc và ở Trung, những vùng rõ ràng có ưu thế hơn về chiều dày của văn hóa truyền thống. Nhưng càng truyền thng thì lại càng rụt rè trong việc chế ra chữ cho chính mình dùng, cho nên hay có khuynh hướng hoặc phiên âm, hoặc tìm chữ Hán Việt tương đương, trong khi đó người miền Nam chế ngay ra chữ mới gọi thẳng tính chất và công dụng của sự vật muốn chỉ bằng tiếng Việt. Ví dụ, trong khi miền Bắc và Trung còn dùng tiếng frigidaire thì người miền Nam gọi một cách thoải mái cái y là cái tủ lạnh (cái tủ phát ra hơi lạnh thì gọi là tủ lạnh, còn ngần ngại gì nữa?); còn limonade thì min Nam gọi là nước ngọt (một tiếng tổng hợp tt cả các thứ nước giải khát có đường, sau đó nếu cần mới chỉ rõ là nước cam, nước chanh, xá xị v.v...); theo Tàu gọi là mì chính hay vị tinh thì min Nam gọi là bột ngọt; các bộ phận trong chiếc xe đạp thì trong khi Bắc và Trung còn dùng toàn tiếng Tây thì min Nam Việt hóa một cách dễ dàng: cái ghi đôngtay cầm’ (còn vô lăng của xe hơi thì là tay lái’), sêndây xích,’ phanhthắng’ (cho cả danh từ lẫn động từ), moyeu là cái đùm,’ garde-bouevè chắn bùn’; loại xe chở xăng mà tiếng Pháp gọi là citerne thì người Bắc chỉ biết gọi nhại là ‘xi-téc’, hay người Trung ‘xi-tẹt’, người Nam đã Việt hóa vô cùng tài tình và chính xác : ‘xe bồn’... Đặc điểm của sự Việt hóa này là thy sao nói vậy, có tính thực dụng, để có thể dùng ngay một cách dễ dàng hàng ngày, không bị cái gánh nặng chữ nghĩa bác học ám ảnh, mà rốt cuộc lại có sức sống nhất, được cả nước chấp nhận và dùng rộng rãi. Điều này ngẫm ra cũng là sự lạ. Đất Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp mà dân ở đó lại không sính dùng tiếng Pháp trong sinh hoạt hàng ngày. Họ Việt hóa chữ nghĩa của họ một cách triệt để. Hình như đó là tính cách của vùng đất mới, “dọc ngang nào biết trên đu có ai" kể cả cái mớ chữ nghĩa rắc rối của giới học thức. Tự tạo chữ ra mà dùng, dù thoạt đầu chỉ là để cho tiện dụng thôi, nhưng đó cũng chính là biểu hiện lòng yêu nước, một cách hồn nhiên gần như tự phát không chịu nô lệ tiếng nước ngoài.

Cho nên không lạ là các thuật ngữ tiếng Việt của môn đá banh được phổ biến và dùng rộng rãi rất nhanh trong quần chúng miền Nam, những manh, những tết, những nu (ném biên), những gạc gôn. những a ri e... biến mất sạch trong không đầy một thập niên, (những người sinh trong thập niên 50 có thể chẳng hiểu gì về những chữ này!) và được thay thế bằng một hệ thống thuật ngữ hoàn chỉnh, tuy là có nặng phần hán-việt. Rõ ràng quần chúng miền Nam không dự phần trong vụ đặt tên này (nếu làm được thì chc họ đã làm từ trước lâu rồi), bởi lẽ môn đá banh thoạt tiên chỉ là môn chơi của một nhóm người, sau nữa các ý niệm vai trò và động tác trong sân khó diễn đạt bằng ngôn ngữ thường ngày, vì không chữ tương đương và cũng không có nhu cầu trong rộng rãi quần chúng. Tuy nhiên mọi người chp nhận hệ thống thuật ngữ mới một cách tự nhiên, ngay cả chữ “túc cu” cũng trở nên quen thuộc không kém chữ “đá banh.” đây tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc của một ngoại lệ, đó là chữ “banh.” Chỉ ở Bắc dùng chữ “bóng” để chỉ một vật khối tròn có hơi bên trong, Trung và Nam không dùng, cùng lắm chỉ dùng chữ “bong bóng,” cho nên đành phải chấp nhận phiên âm chữ balle từ tiếng Pháp thành “banh.” Mà xin các nhà ngữ học xem lại coi, người Bắc có dùng chữ “bóng” để chỉ một cái gì khác ngoài cái vật ngoại nhập có tên gọi là balle y hay không? Hay đây cũng là một chữ được chế ra rút từ chữ “bong bóng,” cốt để chỉ cái vật y? Nghĩa là cũng là một cách phiên âm, nhưng có “dính dáng” với ngôn ngữ Việt Nam hơn, để cuối cùng ta có “quả bóng” cho min Bắc, “trái banh” cho Trung và Nam?

“Đá banh” là một động từ nôm na, không thể dùng nó như danh từ để chỉ môn chơi, như chữ “túc cầu” hay “bóng tròn” trước đây được dùng ở miền Nam, hay chữ “bóng đá” của min Bắc mà hiện nay trong nước đang dùng một cách chính thức. Kể ra trong các chữ y,bóng đá” là hay hơn cả, vì khi đã có bóng chuyn, bóng rổ, bóng bàn thì bóng đá hợp lý và tượng hình hơn... bóng tròn rất nhiều, và dĩ nhiên là Việt Nam hơn “túc cầu.” Nhưng sự thành hình của ngôn ngữ rất nhiều khi không dựa vào sự hợp lý mà còn vào nhiu yếu tố khác, hễ dùng quen thì nên, còn nếu vì một lý do gì không dùng nữa và được thay thế thì nó chết, nó lẳng lặng rút vào quên lãng, chẳng kiện cáo ai cả.

Đề cập đến sự dửng dưng của người Mỹ đối với bóng đá, một người di dân trung niên đã nói rằng: “Phải là những kẻ khi còn nhỏ có cái say mê dắt trái banh đi thì lớn lên mới thích môn này được.” Phát biểu ấy hẳn nhiên là đúng nhưng không đủ, vì nhiều người cả đời chưa bao giờ đụng đến trái banh vẫn ham xem đá banh như thường. Ngày nay cánh phụ nữ tại Việt Nam cũng mê World Cup lắm, cũng thưởng thức được cái hay cái đẹp của môn chơi, cũng cổ võ nồng nhiệt, nhưng tuyệt đại đa số trong bọn họ chưa bao giờ chơi bóng đá. Môn này đã biến thành một cảm hứng chung của xã hội rồi, và hoàn toàn có khả năng thu hút mọi người thành “fan” của nó mà không cn bắt họ phải là đồ đệ chính cng, theo nghĩa là phải nhập môn, phải tập dượt, phải ra sân.

Hu hết những người chơi đá banh từ ngày nhỏ khi lớn lên thì không chơi nữa. Chỉ một s ít theo nghiệp này, trong một thời gian mà tuổi tác và sức khỏe họ còn cho phép. Một số đông hơn thỉnh thoảng ra sân, một cách tài tử. Nhưng tất cả đều tiếp tục ham xem các cuộc thi đu, hầu như không có loại trừ. Trước kia trong nước, họ cố gắng có mặt trong các trận quốc tế, các trận tranh cúp quốc gia. Ra nước ngoài họ ôm lấy cái ti vi trong những ngày World Cup, hoặc nếu bận đi làm thì thu vào băng video để tối về coi. Tại một nước hững hờ với bóng đá như nước Mỹ, người xem các cuộc thi đu dễ có thái độ trung lập hơn là những nơi mà sự ham thích làm sôi sục cả xã hội. Nhưng thật ra ít khi nào xem một trận đu là lòng ta hoàn toàn trung lập, không mong cho một bên thắng hơn là bên kia. Nếu một bên là đoàn cu của nước mình thì khỏi nói, sự thiên vị sẽ ở sẵn trong ta như một yếu tố bẩm sinh, dù có tu luyện cái tâm đến mức nào cũng không thể trung lập tuyệt đối được. Thế nhưng khi xem một trận giữa hai nước trên thế giới không có liên hệ gì đến mình, sự thiên vị một bên vẫn thường có, hoặc có ngay từ đầu, hoặc thành hình lúc nào không hay trong lúc đang xem. Ví dụ ta đang xem trận Hòa Lan đu với Argentine chẳng hạn. Hai “thằng đó thì chẳng dính líu gì tới Việt Nam, bên nào thắng cũng chẳng tác động gì đến tình cảm của mình. Đó là hai đội hay, có tiếng, đều đã từng đoạt chức vô địch thế giới, một trận sẽ đem lại cho sự thưng ngoạn của mình nhiu sướng thỏa” (lại chữ mượn của Huyền Vũ). Thế nhưng xem một lúc thì mới phát giác ra rằng chính mình đang nghiêng về phía Hòa Lan, nghĩa là hồi hộp lo lắng khi thy quân Nam Mỹ ào ạt tấn công sát khung thành của Vùng Đất Trũng, và nếu thy điu ngược lại đang diễn ra thì vui mừng... Khi phát giác ra như thế thì thoạt tiên thy hơi bực mình, vì vẫn cho rằng đừng để cảm tình xen vô thì thưng thức cái hay được trọn vẹn hơn. Và thử dò lòng mình xem do đâu mà sinh ra thiên vị như thế, và đưa ra một vài lý do như là các giả thuyết, chứ chưa dám khẳng định hẳn. Có phải vì thời xửa thời xưa Hòa Lan đã đến Việt Nam buôn bán, lập thương điếm Phố Hiến và Hội An, nên từ vô thức lòng ta đã có cái gì đấv gắn bó với “nó”? (giả thuyết này xem ra nặng phần... phân tâm học quá!). Hay là vì hai thập niên trở lại đây Hòa Lan đã tỏ ra rất tốt với dân tị nạn Việt Nam, nhận rất nhiu thuyền nhân cho tá túc nước mình để làm ăn sinh sống? Hay là vì nhà xuất bản Cái Đình của các anh em tại Hòa Lan nặng lòng với văn hóa Việt Nam như Nguyễn Hiền, Cao Xuân Tứ, Nguyễn Lê Hồng Hưng, Nguyễn Hoàn Nguyên v.v...? Hay vì gần đây mình đã có một chuyến du lịch Hòa Lan và có cảm tình với các loại hoa ở đó?... Khó có thể biết lý do nào là chính, cái nào là phụ, nhưng ngẫm ra thì rõ ràng Hòa Lan đang “có điểm” trong lòng một người Việt Nam đang coi đá banh hơn là nước Argentine nhiu. Từ đó suy ra, ở đời này thật khó mà giữ lòng được công bằng tuyệt đối. Từ một chỗ ngóc ngách sâu kín trong tâm lý của chúng ta sẽ nảy ra một yếu t nào đy xô cho cán cân dần dần thiên lệch, ngoài sự kiểm soát của lý trí.

Những người đàn ông trung niên Việt Nambất cứ nơi nào trên thế giới xem trận chung kết giữa Pháp và Brazil vừa rồi có thể nói đu đứng v phe Pháp (*). Dù họ là con cháu của những vị quan lớn có nhiu liên hệ với “mẫu quốc” ngày xưa, hay của những người đã ngã gục trước họng súng của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, dù họ từng là những cầu thủ tí hon thời Ducouroy hay chỉ mới là kẻ say mê Huyền Vũ trong thập niên 60, tất cả các tm lòng đều nghiêng về phía Pháp. Có lẽ chẳng cần lý giải vì sao. Lịch sử đã tạo như thế. Họ được xem cảnh vui mừng của dân Pháp tại cu trường Stade de France, tại Champs Elysées ngày hôm đó, có lẽ chính lòng họ cũng mang phần nào nỗi hân hoan y. Và họ vô cùng tâm đắc khi nghe người tường thuật của đài truyền hình KABC của Mỹ, vào lúc cuối của trận chung kết y đã trích câu quốc ca Pháp để nói về đội Pháp: ... Le jour de gloire est arrivé... Ngày vinh quang đã tới. Không câu nào “đắt” hơn là câu đó, trong giờ khắc y. Một tổng hợp văn hóa, lịch sử và sự kiện hiện tại cực kỳ khéo léo, trong giây phút xuất thần của một phóng viên thể thao.

Nhiều người cho rằng coi đá banh là phải coi với lòng mong cầu một phe thắng, chứ nếu hoàn toàn dửng dưng thì còn gì là hào hứng? Có phải vì thế mà người ta bày đặt thêm vụ cá độ để lòng mong cu càng mạnh mẽ thiết tha hơn nữa, hầu cuộc chơi càng thêm hào hứng? Ngược lại, đối với một người đang dốc lòng tu tâm dưỡng tánh — thường nằm trong lớp trung niên — thì càng tránh những xúc động thái quá càng tốt cho tâm thân của họ, ngay trong lúc coi đá banh cũng không nên để cái cảm xúc hơn thua nó chế ngự tâm của mình, mà chỉ nên đ ý đến nghệ thuật của hai phe mà thôi. Cảm xúc sẽ che mờ khiếu thưởng ngoạn, lòng mong cầu sẽ như một mảng vô minh che mắt khiến chúng ta không thưởng thức được trọn vẹn cái hay cái đẹp thuần túy của chiến thuật chiến lược mỗi bên, hay tài nghệ của những đôi chân vàng của các cu thủ. Xem thế thì cái Chân, Thiện, Mỹ cùng lòng ham mun, mong cầu, dục vọng nằm cả trong thế giới túc cu này. Hàng triệu người xem nhưng mỗi người sẽ với căn cơ khác nhau, với trình độ thưởng thức cao thấp khác nhau, với niềm vui và nỗi buồn khác nhau. Nhưng may mắn tất cả đều có một mẫu s chung đẹp: ham thích một môn chơi say mê và lành mạnh, có khả năng đem con người lại gần nhau.

* Nhận định này không hoàn toàn đúng. Sau khi báo Thế Kỷ 21 số 112, tháng Tám 1998 phát hành ít lâu, tác giả Chuyện Đá Banh đã nhận được một email từ Canada có nội dung : “Không, không, tôi yêu mến và hoàn toàn ủng hộ đội Brazil chứ không phải đội Pháp !!”









Ký Giả LÔ RĂNG: "Nhà Báo Nói" Huyền Vũ


 Ký giả Huyền Vũ (1914-2005)

Ở miền Nam chúng ta ngày trước, người viết thể thao hay nhất là Thiệu Võ, còn "nhà báo nói" thể thao kiệt hiệt nhất là Huyền Vũ. Trong những kỳ đại hội bóng tròn thế giới hay Euro 4 năm một lần, thuyết mình viên bóng tròn danh tiếng được mời là Martin Tyler hay là Gary Bloom. Tôi không dám đưa ra một sự so sánh vì các ông M. Tyler và G. Bloom là nhà bình luận bóng tròn cho truyền hình tầm cỡ thế glới. Còn nhà báo nói Huuyền Vũ của chúng ta là thuyết mình viên bóng đá cho vô tuyến truyền thanh ở Việt Nam mà thôi. Nhưng các nhà bình luận kể trên chỉ trình làng giọng nói mà không có xuất hiện trên màn hình, nên tôi mới có một sự liên tưởng. Tất nhiên cái tiếng Anh hạn chế của một người di dân già là tôi chắc không thưởng thức được hết cái tinh túy của các nhà bình luận M. Tyler và G. Bloom nên đối với tôi, người tường thuật bóng đá ly kỳ nhất, linh động nhất, say mê nhất... chỉ nghe chuyện bóng đá trên radio mà vung chân muốn sút, chính là Huyền vũ.

Nguyễn Duy Chính: GIÁO SƯ ĐẶNG NGỌC THIỀM


Để tưởng nhớ một ông thầy cũđã “khai tâm” cho tôi môn Hán Vănở CVA năm đệ Thất 1959-1960.

Thằng Tiến Con ghé tai tôi nói nhỏ:
- Thim thừ là con cóc.
Tôi hơi ngạc nhiên, không hiểu tại sao nó lại có thể “uyên bác” đến thế, hỏi lại:
- Thim thừ là con cóc?
Thằng Tiến gật gù:
- Đúng rồi, tao mới tra hôm qua. Nhà tao có quyển từ điển Hán Việt.
Phục thằng này thật, nó bé bằng tôi mà cái gì cũng biết. Nó lại thì thầm:
- Mày nhìn xem ông ấy có giống con cóc không?
Nó nói đây là nói v ông giáo sư Việt Văn đang trên bục giảng bài, ông Đặng Ngọc Thim. Cái tên nghe cũng hay nhưng những đứa bé 11 tuổi vừa vào đệ Thất chúng tôi thì chắc chẳng ai muốn biết cái tên ông ấy nghĩa là gì, trừ thằng Tiến. Độ này chúng tôi đã hơi quen quen với tính khí của ông Thim nên cũng đỡ sợ chứ mấy hôm đầu vừa thấy ông ta bước vào lớp là đã chết khiếp. Nhìn kỹ, với cái bụng to và đôi mắt gườm gườm, đứng chống hai tay lên bàn ông quả cũng giống một con cóc đang chờ mồi thật.

Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO: CHƯƠNG 11: KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI


Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp
hiệu đính năm 2018
° ° ° ° °
CÂU 693 ĐẾN CÂU 804
“Nhờ em trả nghĩa, mắc bợm buôn hoa”

693. Việc nhà đã tạm thong dong,
Tinh kỳ giục giã đã mong độ về. [1]
695. Một mình nương ngọn đèn khuya,
Áo dầm giọt tủi, tóc se mối sầu.
697. Phận dầu, dầu vậy cũng dầu, [2]
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
699. Công trình kể biết mấy mươi,
Vì ta khăng khít, cho người dở dang. [3, 4]

Bùi Văn Phú: Bóng đá, nước Mỹ và kỷ niệm


Nhiều nghìn khán giả Mỹ đến trước Toà Thị chính San Francisco 

xem trực tiếp truyền hình trận Mỹ-Bỉ trong World Cup 2014 
(Ảnh: Bùi Văn Phú)


Giải Túc cầu Thế giới đang diễn ra ở Nga từ một tháng qua và sẽ kết thúc vào Chủ Nhật 15/7 này, khi đội tuyển Pháp và đội tuyển Croatia gặp nhau tranh vô địch World Cup 2018.

Ba mươi hai đội banh từ khắp các châu lục đã tranh tài trong bốn tuần lễ qua, với nhiều bất ngờ. Đức, đương kim vô địch và đã bốn lần đoạt giải World Cup nhưng năm nay phải khăn gói rời nước Nga sau vài trận đầu là điều gây ngạc nhiên cho giới hâm mộ bóng đá. Rồi Spain, Brazil, Uruguay là những nước đã từng đoạt cúp, cũng lần lượt xách vali ra về để lại nước Croatia bé nhỏ, mới ra đời hơn hai thập niên, vào chung kết đối đầu với Pháp, từng đoạt cúp.
Thật là một mùa thi đấu nhiều kịch tính khiến giới cá độ bàn vui với nhau là mùa World Cup này đã có nhiều vụ “nhảy cầu, nhảy lầu” sau những trận tranh tài.

Ngô Nhân Dụng: Tinh thần tự nguyện cứu các cầu thủ Heo Rừng

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2018


Nếu một tai nạn xảy ra ở Việt Nam, tương tự như các em bé trong đội banh Heo Rừng bị kẹt trong hang động ngập nước ở Thái Lan, thì tất cả mọi người Việt cũng được tác động tâm lý để đoàn kết và giúp ích lẫn nhau không khác gì. Nhưng không biết đến lúc đó, các công tác tự nguyện của người Việt có thể biểu lộ thành hành động có hiệu quả nhanh chóng như các công dân Thái Lan hay không.

Một yếu tố giúp cuộc giải cứu các cầu tủ tí hon thành công là các việc làm tự nguyện của các công dân Thái Lan và nhiều nước khác, tinh thần tự nguyện chỉ phát triển trong các xã hội tự do.

SONG THAO: NHỮNG THÁNG NGÀY BUỒN


*
Sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam vào tháng 4/1975, toàn dân miền Nam, nếu chậm chân không leo được lên tàu di tản, đều sống trong những tháng ngày buồn. Nhưng cô nữ sinh 18 tuổi Ngọc Ánh, hơn mọi người, đã phải chịu cảnh buồn hiu. “Ngày Tháng Buồn Hiu” là tập hồi ký của Ngọc Ánh, con một cán bộ Việt cộng có vai vế, nhưng không chấp nhận được chế độ mà cha chị đã say mê tham gia tranh đấu. “Ba tôi là một người Cộng Sản, ông đã tham gia cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp chống Mỹ, các chị em tôi lớn lên ở Sài Gòn, nằm trong lòng “địch” nhưng cả nhà đều là những chiến sĩ xung kích trên khắp các mặt trận ở miền Nam cho tới ngày “giải phóng”. Má thì nuôi giấu cán bộ Việt cộng, các chị em thì làm giao liên. Sau ngày 30/4/75, ba và chị tôi được đón về từ nhà tù Côn Đảo như những người vinh quang nhất trong ngày vui đại thắng, gia đình tôi là một địa chỉ đỏ của thành phố với nhiều huân chương kháng chiến chống Mỹ được treo đầy tường”.

Trần Mạnh Toàn: NHẤT LINH - ĐA-MÊ


 
Người đi biết độ nào về
Nhớ người lòng suối Đa-Mê gợn buồn - Nhất Linh 
Thất-bại hay nỗi ám-ảnh về nó đã bám chặt lấy mọi cảm giác hay suy nghĩ về quá khứ trong hơn một thế hệ đã qua hay chưa qua. Hiểu theo một ý nghĩa, người ta muốn rũ sạch nó trong một chuyến đi, nhân một lựa chọn năm nào - như trong Đêm Giã Từ Hà Nội hay Bếp Lửa chẳng hạn - nhưng vô hiệu. Nỗi thất-bại đã đủ tuổi hóa thạch và con người cũng thêm khôn ngoan khi chấp nhận sống chung thay vì cự tuyệt. Tâm trạng người thất-bại là cõi lòng ảm đạm của người giữ mộ như nhân vật trong Người Đồng Chí Cũ. " Hãy cho tôi làm người canh coi cái nghĩa địa đó, làm ông từ giữ cái đền đài khói hương của đoàn thể đó." (33)
Cũng có thể hiểu điều mà thế hệ này làm là không muốn tái tục thất bại nữa. Không thể thay đổi vị trí hay hướng đi, họ không mong trông đợi ngoài cái cách ôm chặt nỗi đắng cay  như hình thức tự trừng phạt.

ĐÔNG HƯƠNG: PHÍM RỐI



Thì xem như vẫn còn người
tôi ngồi tự tạo cho tôi cuộc tình
tuyệt vời như ánh bình minh
chợt ... hoàng hôn bỗng trở mình ... oằn tim

Thế là con chữ ... lung linh
trên thềm phím rối lăng quăng ân từ
ngẩn người _ chạn trán suy tư
buồn qua cửa ải hư vô ... phủ trùm

Mở toang cánh tủ dư hương
đặt lên cổ áo chiếc hôn ngậm ngùi
vẫn người làm trở trăn tôi
xưa _ giờ cho đến ngày tôi xa trần

Không người _ tôi chỉ phù vân
một làn hương khói phù trầm huyễn như
làn hơi cô tịch vượt từ
phổi người cảm xúc _ mượn thơ ... cổi trần

đông hương


Ngô Thế Vinh: GIÁO SƯ TRẦN NGỌC NINH VÀ ƯỚC VỌNG DUY TÂN

Tôi mơ về một nước Việt Nam hoà bình, tân tiến trên nền tảng của những giá trị tinh thần mà lịch sử đã nhồi vào nền văn hiến của nước ta. Cả cuộc đời xã hội của tôi là để đóng góp vào sự ước mong ấy. Trần Ngọc Ninh, Ước Vọng Duy Tân, 2012 

Tôi mơ về một nước Việt Nam hoà bình, tân tiến trên nền tảng của những giá trị tinh thần mà lịch sử đã nhồi vào nền văn hiến của nước ta. Cả cuộc đời xã hội của tôi là để đóng góp vào sự ước mong ấy. Trần Ngọc Ninh, Ước Vọng Duy Tân, 2012

Hình 1: trái, đến thăm Gs Trần Ngọc Ninh, Huntington Beach ngày 21 & 29 tháng 06.2018, ở tuổi 95 mà Thầy vẫn còn rất minh mẫn và sắc bén; trên bàn là những số báoTình Thương(1963-1967) có các bài viết của Thầy; phải, Gs Trần Ngọc Ninh đang ký tặng Ngô Thế Vinh cuốn Làm Gì (1979), bên cạnh là tác phẩm Nuôi Sẹo của Thư Quán Bản Thảo do nhà văn Trần Hoài Thư tặng Gs Trần Ngọc Ninh. [tư liệu Ngô Thế Vinh]    
 

Đối với Ngự Thuyết, nội dung và hình thức là một thể nhất quán bao trùm mọi đề tài, trong đó tâm thức lưu đày được trình bày khá nhiều dưới những dạng khác nhau. ... Đây là tư duy nòng cốt của Ngự Thuyết. ... Nó là một hiện thực làm cho Ngự Thuyết băn khoăn và còn “vang vọng lâu dài vào hồn, vào tim của những thế hệ mai sau”... - Lê Hữu Mục

Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

Góp ý


Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.