Tìm kiếm Blog này

Nguyễn Văn Tuấn: Những mảnh đời qua bút kí của Đinh Quang Anh Thái

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018


Có những bài tuỳ bút và bút kí mà khi đọc xong chúng ta tự hỏi sao tác giả 'hay chữ' thế, sao mình không nghĩ ra được những chữ đẹp lộng lẫy như tác giả. Nhưng cũng có những bài bút kí làm chúng ta trầm trồ khen tác giả về những câu chuyện độc đáo, những vốn sống, về sự phong phú trong trải nghiệm xã hội, và những mối giao hảo đúng người, đúng địa chỉ. Tôi gọi hai loại bút kí là kí của nhà văn và kí của nhà báo. Trong những bài kí của nhà văn, ý tưởng có thể lan man, chuyện nọ xọ chuyện kia, nhưng văn chương và chữ nghĩa lại là cả một sáng tác. Nhưng kí của nhà báo có cái khó vì tác giả phải sắp xếp và lồng những trải nghiệm của mình trong câu chuyện về một nhân vật sao cho độc giả thẩm thấu câu chuyện và ý nghĩa của nó; đó là loại bút kí biến dữ liệu thành thông tin.

Đinh Quang Anh Thái là một tác giả của loại kí thuộc nhóm hai. Qua 12 bài kí sự trong cuốn sách, tác giả đã kể lại những cuộc tiếp kiến với những văn nghệ sĩ và nhà hoạt động nổi tiếng như Bùi Bảo Trúc, Đỗ Ngọc Yến, Đoàn Kế Tường, Hồ Hữu Tường, Hoàng Cơ Trường, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Tất Nhiên, Lê Văn Tiến, Nguyễn Chí Thiện, Trần Văn Bá. Tất cả những nhân vật vừa kể đều đã ra người thiên cổ, sau một lần ở trọ trần gian. Thời gian 'ở trọ' của họ đã để cho thế hệ sau những bài học nhân thế, tình yêu quê hương, và niềm hi vọng về một ngày quê hương sẽ sáng chói. Quyển kí này là một lời giới thiệu tổng quan về những nhân vật trên mà thế hệ sau có thể tìm hiểu sâu hơn.

Chiến tranh và hệ quả của nó trong thời hậu chiến là môi trường cho những chất liệu phong phú cho bút kí. Có biết bao câu chuyện bi hùng cần được kể lại. Thế nhưng trong thực tế có rất ít bút kí trong văn học Việt Nam, có lẽ người Việt chúng ta không quen với kí và hồi kí. Cũng có những cuốn kí từ một phía của cuộc chiến, nhưng hình như đó là những tập kí có mục tiêu tuyên truyền kèm theo những thậm xưng mang tính thần thánh là chính. Còn ở đây bạn đọc sẽ gặp những con người thật, những sự việc thật, và cái chất thật được thể hiện qua những thành bại, hỉ nộ ái ố của các nhân vật. Không có thần thánh. Chẳng có tuyên truyền. Tất cả là sự thật.

Tôi gọi tập bút kí này là những mảnh đời. Đó là mảnh đời lưu vong của những văn nghệ sĩ như Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Tất Nhiên, và những đồng hương ở Nga và Tiệp. Họ là những người trong giới tinh hoa (elite) của miền Nam, của dân tộc như Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Bảo Trúc, Hồ Hữu Tường, Lê Văn Tiến. Họ là những nhà hoạt động nổi danh một thời như Trần Văn Bá, Đoàn Kế Tường và Hoàng Cơ Trường. Họ là những du học sinh và những người lao động chân tay ở xứ người. Như DNA của 6 tỉ người trên hành tinh này chẳng ai giống ai, nhưng ai cũng có 23 nhiễm sắc thể, mười hai nhân vật trong quyển kí này có những chất liệu hoàn toàn khác nhau, nhưng có cùng chung thân phận: long đong. Tuy long đong ở nước ngoài nhưng tất cả đều có một mẫu số chung về lí tưởng: mong cho quê hương sáng chói.

Người đọc kí thường trông chờ những thông tin "độc" từ những nhân vật và sự kiện sẽ không thất vọng với tập kí này. Ví dụ như những câu chuyện độc đáo đằng sau một cây bỉnh bút nổi tiếng Bùi Bảo Trúc. Những ai từng yêu mến kiến văn uyên bác và cách viết dí dỏm của Bùi Bảo Trúc sẽ thấy thích thú khi biết rằng ông từng là một phát ngôn viên của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông Bùi Bảo Trúc là người mà trình độ tiếng Anh có thể ngang hàng trình độ tiếng mẹ đẻ, người mà "giá nhắm mắt thì có thể nhầm là một người Anh chính cống đang phát biểu", và người đã "dùng ngoại ngữ đối đáp và tạo được sự nể trọng của giới kí giả nước ngoài." Một người giỏi tiếng Anh khác là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích (từng là giám đốc chương trình Việt ngữ của Đài Á Châu Tự Do), người mà tác giả mô tả rằng "[...] mỗi khi chú chấp bút viết một bản văn bằng Anh ngữ, Phó tổng giám đốc đài là nhà báo Dan Southerland phải thốt lên rằng, không thể sửa, dù một dấu phẩy bài chú viết." Đọc đoạn này chúng ta có thể so sánh với những phát ngôn viên ngày nay của Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa thì chỉ biết ngậm ngùi.

Hay những câu chuyện làm chúng ta phải chạnh lòng về cuộc đời của các nghệ sĩ. Ai yêu nhạc đều biết đến cái tên Nguyễn Tất Nhiên, nhưng có lẽ ít ai biết đằng sau những vần thơ tình tươi tắn và nghịch ngợm đó lại là một cuộc đời bị ám ảnh bởi cái chết và ... muốn chết. Nguyễn Tất Nhiên thường hay tâm sự với người bạn mình là Đinh Quang Anh Thái rằng "chắc có ngày tui tự tử quá ông ơi", và quả thật ngày đó đã đến vào năm 1992 khi Nguyễn Tất Nhiên tự kết liễu đời mình trong một chiếc xe cũ kĩ đậu trong sân một ngôi chùa ở Little Sài Gòn. Trước ngày chết một tuần, khi được mời đi ăn trưa, Nguyễn Tất Nhiên thản nhiên nói "thằng sắp chết không ăn, không hút thuốc." Có ai nghĩ tác giả của Thà như giọt mưa, Trúc đào, Cô Bắc kì nho nhỏ lại từ giã cõi đời trong hoàn cảnh như thế.

Tác giả còn kể lại hai chuyến đi sang Tiệp và Nga, với những câu chuyện hết sức thú vị về du học sinh và những người đi lao động bên đó. Những câu chuyện về sự bưng bít thông tin ở trong nước, những khát vọng của các sinh viên và người lao động về một nước Việt Nam mới được Đinh Quang Anh Thái viết ra rất thật và chân tình. Câu chuyện đi Nga với hãng hàng không Aeroflot có thể làm cho những người sống ở phương Tây như chúng ta phải mở mắt kinh ngạc. Tác giả kể "Thảm lót sàn rách nát, có chỗ cộm lên từng cục, nhất là ngay cửa vào, chỗ để mấy xe thức ăn, thảm rách được lấp liếm qua loa như một đống giẻ dơ bẩn khiến tôi suýt vấp ngã. Chưa hết, chỗ để hành lý trên đầu hành khách không có nắp đậy an toàn, nó chỉ là một loại kệ chạy dài gắn vào thân phi cơ." Nhưng câu chuyện trên máy bay thì có thể làm cho chúng ta đắng lòng. Khi tác giả hỏi một cô người Nga ngồi cạnh trong chuyến bay "có bao giờ cô gặp người Việt Nam ở Nga chưa", cô nói "Có chứ, chẳng có gì tốt đẹp về họ cả, buôn chui bán lận, gấu ó lẫn nhau là tất cả chuyện về họ." Đến ngay rời Nga cũng có một câu chuyện giống với trải nghiệm của hầu hết người Việt ở các phi trường lớn của Việt Nam: "Sáu ngày với cái lạnh và đói ở Mockba rồi cũng đến lúc chia tay. [...] Qua cổng hải quan, kỷ niệm chót của chúng tôi tại xứ này là mỗi đứa phải 'thông cảm' 20 dollars cho nhân viên di trú kiểm soát thông hành. Nếu không, người 'anh em' gây khó dễ thì 'làm gì nhau.'"


Và, còn nhiều câu chuyện hay như thế, nhưng tôi để cho bạn đọc từ tìm đọc và suy nghiệm. Những câu chuyện về Đỗ Ngọc Yến, người sáng lập nhật báo Người Việt, tờ báo lớn nhất của người Việt ở nước ngoài; về Nguyễn Ngọc Bích, từng là Giám Ðốc Ban Việt Ngữ Ðài Á Châu Tự Do; về Như Phong Lê Văn Tiến, một nhà báo lừng danh mà tác giả gọi một cách thân thương là "Cậu Tiến". Tất cả đều được Đinh Quang Anh Thái phác họa bằng một văn chương dễ đi vào lòng người: đó là văn chương mang tính hình tượng.



Tôi biết Đinh Quang Anh Thái khá lâu. Những năm trong thập niên 1990s tôi hay đóng góp bài vở cho Tạp chí Thế Kỷ 21, một tạp chí của Người Việt, nơi anh làm việc. Biết qua những bài viết, chứ ít khi nào gặp và nói chuyện. Lần đầu tiên tôi có dịp gặp và nói chuyện với anh là qua một anh bạn khác, và anh để lại trong tôi ấn tượng của một người thẳng thắn, cương trực, nhưng hài hước -- một tố chất rất cần thiết trong những buổi đàm đạo trên bàn cà phê. Nhìn bề ngoài anh trông giống một gã giang hồ hơn là một kí giả, nhưng khi anh nói chuyện thì mới thấy cái duyên chất của một kí giả. Sau 1975 anh từng ở tù ở Việt Nam (tôi không hỏi vì lí do gì) nhưng anh kể chuyện trong tù hết sức dí dỏm, có khi cười ra nước mắt, y như một cuộc du ngoạn, chứ không phải đi tù. Bùi Ngọc Tấn đi tù và 'chưng cất' những nỗi đau khổ thành chữ, nhưng đối với Đinh Quang Anh Thái nhà tù có vẻ như là nơi anh chắt chiu những câu chuyện hài đen về xã hội chủ nghĩa. Những gì anh trải nghiệm ở Nga mang đậm chất hài đó, và chắc chắn sẽ đem đến cho bạn đọc nhiều nụ cười mỉm.

Đinh Quang Anh Thái là một kí giả, nên anh có một vốn sống rất phong phú. Những bài bút kí này chưa phản ảnh hết những gì anh biết về nhiều nhân vật khác. Phải nghe anh nói về những lần tiếp kiến với văn thi nhạc sĩ lừng danh, những chính khách lừng danh lẫn chính khách nửa mùa mới thấy anh có cái tài kể chuyện. Đó là những thông tin "độc" -- theo cách nói thời nay ở trong nước. Lúc nào cũng bằng một lối nói sôi nổi và hào hứng. Lúc nào anh cũng kết thúc câu chuyện bằng một câu kết như là một bài học ở đời. Câu kết thường là trắng đen, dứt khoát, không có vùng màu xám. Nhưng trong loạt bài bút kí này, những câu kết của anh thường là những câu buồn và vương vấn. Viết về Hồ Hữu Tường, tác giả kết thúc bằng câu "[...] thương bác những ngày nghiệt ngã trong trại giam, bưng chén canh chung lên môi, nuốt cùng bao nỗi cay đắng khổ cực của một phận người suốt đời mưu cầu cái chung cho dân tộc", hay viết về Như Phong Lê Văn Tiến, tác giả nhận xét "Bây giờ thì cậu không còn nữa, nhưng đó chỉ là phần xác thôi, chứ tinh anh của cậu vẫn còn và sẽ còn mãi trong lòng nhiều người, nhiều thế hệ."

Nói như Nhạc sĩ Tuấn Khanh, Việt Nam là một "phác đồ của nghịch cảnh, phác đồ của mỗi cá nhân bị buộc phải chịu trách nhiệm thay cho các nền chính trị đã điều khiển dân tộc này, chưa thấy yêu thương đã ngập hận thù. Tất cả chúng ta đã hoặc đang là nạn nhân của chính trị." Mười hai bài bút kí trong tập sách này nói lên thân phận của những nạn nhân đó. Đáng lí ra tôi sẽ 'bật mí' cho bạn đọc những câu chuyện hay khác về học giả Hồ Hữu Tường và thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhưng tôi nghĩ các bạn không muốn tôi làm như thế vì cần phải để dành một số ngạc nhiên. Những câu chuyện trong tập sách, nói theo khoa học, chỉ là dữ liệu; cái quan trọng hơn là thông tin. Người viết bút kí hay là người biết chuyển hóa dữ liệu thành thông tin. Qua tập bút kí này các bạn sẽ thưởng thức những thông tin để đời mà các nhân vật và sự kiện đã đóng góp qua tài chuyển hóa của tác giả Đinh Quang Anh Thái.

NVT

MỘT SỐ Ý KIẾN KHÁC CỦA BẠN BÈ
(đã được đăng từ trang 11 đến 14 của quyển KÝ) 

Nếu họa sĩ vẽ chân dung bằng cọ thì với tác phẩm này Đinh Quang Anh Thái đã hoàn tất được những bức chân dung bằng ngòi viết của mình qua nhiều nhân vật danh tiếng thuộc các lãnh vực chính trị, xã hội cũng như văn hóa. Để làm được công việc này, hẳn không phải dễ. Bởi điều trước hết là người viết phải thật trung thực khi cầm bút, nếu không, tác phẩm sẽ dễ rơi vào tình trạng viết ra để thù tạc. Rồi thứ đến, tác giả phải có liên hệ mật thiết với những nhân vật mình viết để mang lại cho chân dung những đường nét hiếm hoi, bất ngờ, khám phá. Và sau cùng, viết ra không phải chỉ là để đọc qua rồi bỏ mà còn là một sự gửi gấm những tâm tình, ghi gói những niềm ước mơ về tương lai còn ấp ủ của những nhân vật được khắc họa và gửi lại cho thế hệ sau những mảnh gương sáng ngời của thế hệ đi trước. Tất cả những điều kể trên, Đinh Quang Anh Thái đã thực hiện được trong tác phẩm này. ~ Nhật Tiến

Ngoài đời Đinh Quang Anh Thái có dáng vẻ của một tay giang hồ, nhưng cũng rất kỷ luật và nguyên tắc. Bấy lâu, thính giả đã quen thuộc với một Đinh Quang Anh Thái có giọng nói nội lực, khúc triết qua các bản tin, phóng sự, phỏng vấn nhân vật bên trong và ngoài nước, cả với vai trò của một MC điều hợp chương trình trong các buổi lễ hội. Nay qua tập Ký, là hợp tuyển những bài viết mới được xuất bản, độc giả sẽ khá ngạc nhiên khi tiếp cận với một Đinh Quang Anh Thái khác. Ký vốn là một thể văn rộng rãi, nhưng với Đinh Quang Anh Thái chủ yếu là những ghi chép về nhân vật và sự kiện, qua những hoàn cảnh và các giai đoạn mà Đinh Quang Anh Thái có dịp tiếp xúc, trải qua và sống với. Chân dung các nhân vật được lột tả sống động, các sự kiện phong phú được ghi lại với một trí nhớ dễ nể và được viết với một văn phong bộc trực thô nhám nhưng không thiếu phần tinh tế. ~ Ngô Thế Vinh

Đây là một cuốn sách với nhiều mẩu chuyện thú vị, bao gồm nhiều chủ đề vì tác giả là người đi nhiều, quen biết nhiều, và sống rất nhiều.  Đọc để trải nghiệm về một nước Nga kinh hoàng trong thời kỳ Cộng Sản tan rã; để thương cảm cho những thân phận tù; để biết lòng vị tha của Nguyễn Chí Thiện, đa tài của Đỗ Ngọc Yến, tâm bất an của Nguyễn Tất Nhiên, v.v.  Và cuối cùng, đọc để nhận ra tấm lòng đối với quê hương, đất nước và con người Việt Nam của Đinh Quang Anh Thái. ~  Nam Phương  

“Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ
Cầu cao nghiêng dốc bên giòng sông sâu …”

Biết Đinh Quang Anh Thái, nên khi đọc xong tập bút “Ký” của anh, tôi hình dung ra chàng tuổi trẻ một thoáng dừng bước giang hồ, ghi vội những điều mình đã trải nghiệm, những con người có lần gặp gỡ từ những cơ duyên bất chợt trong suốt cuộc ruổi rong. Thái bắt đầu cuộc phiêu lưu từ thuở chưa đến tuổi hai mươi, mỗi bước đi anh mang theo ngọn lửa của lý tưởng của thương yêu. Ngọn lửa đã theo Thái đi bốn phương tám hướng, từ Việt Nam qua Mỹ, rồi sang Âu sang Á, đi vòng hết tinh cầu, đi từ những vùng sáng tự do đến những góc tối đen tù ngục. Chính ngọn lửa đó đã khơi lên tình bằng hữu giữa những người khác chủng tộc, hoặc không cùng thế hệ, giữa những người đã có lần thuộc về hai bờ bến khác nhau của dòng Bến Hải; ngọn lửa nóng đủ để làm tan chảy giá băng cách biệt và nối kết những tâm tư có cùng chung mẫu số. Và tôi cũng biết Đinh Quang Anh Thái, để hình dung ra gã trung niên giang hồ phiêu lãng sẽ vẫn còn tiếp tục cuộc viễn du, vang vang lời hát:
Nhưng đường quá xa vời
Hương trời vẫn mê mài
Đời tôi sao vẫn còn biên giới …
(Bên Cầu Biên Giới – Phạm Duy)
~ Nguyễn Hoàng Duyên 

Tôi đã sống với những giấc mơ nhỏ bé bên người yêu như “ta muốn cùng em say… ”, cho đến những ước vọng ngoài tầm tay cho quê hương như “có bao giờ máu xương tàn, núi rừng ươm nắng… ” Những ước vọng cho quê hương đó tôi đã nhiều lần tiếc nuối vì không có cơ hội đóng góp tích cực hơn. Nay đọc tập Ký này của Đinh Quang Anh Thái, anh đã cho tôi cùng anh bước lại các đoạn đời đấu tranh của chính anh trải dài theo lịch sử đất nước từ khi anh 20 tuổi và vẫn tiếp tục trong những năm tháng xa xứ. 

Qua các sinh họat đấu tranh của anh và các bạn đồng chí hướng được ghi lại trong cuốn Ký, tôi đã được “gặp và sinh hoạt” với một Trần Văn Bá của Tổng Hội Sinh Viên Viêt Nam tại Paris mà tôi rất ngưỡng mộ; gặp Đỗ Ngọc, Hoài Hương, Hồ Huy và các sinh viên, công nhân Đông Âu tranh đấu cho một Việt Nam dân chủ, tự do. Tôi còn được biết một Đoàn Kế Tường, một Bùi Bảo Trúc, một Đỗ Ngọc Yến, một Nguyễn Ngọc Bích và rất nhiều sĩ phu Việt Nam khác đã hết lòng với quê hương dân tộc mà lòng tôi luôn luôn kính phục.

Riêng cá nhân tôi, với ước vọng được nhìn thấy một quê hương Việt Nam an bình, người người hạnh phúc, tôi trân trọng cám ơn Đinh Quang Anh Thái đã cho tôi được chia sẻ những kinh nghiệm dấn thân của anh trong hơn 40 năm qua cho quê hương thân yêu của chúng ta. ~ Đăng Khánh 

Hầu hết các bài trong tập sách được viết khi nhân vật vừa qua đời. Thấy nước mắt, nghe lời ai điếu, đôi khi cả lời xin lỗi kín đáo và muộn màng từ tác giả gởi người vừa nằm xuống. Tập sách như nén hương lòng thắp tạ những nhân vật của một thời!  ~ Phạm Phú Thiện Giao 

Những câu chuyện thật, những con người thật, những nơi chốn thật, nhưng trên hết là tình người và những tấm lòng chân thật đã ở lại cùng tác giả xuyên suốt những cuộc hành trình, trở thành những mảng lịch sử sống được ghi vào trang giấy. Mai này, nếu có ai muốn tìm lại hình ảnh những nhân vật, những cộng đồng, những câu chuyện tranh đấu Việt cùng khắp năm châu, cuốn Ký này có lẽ là một trong những cuốn sách gối đầu. Hiện tại, theo lời tác giả, Ký có được là nhờ những đêm tỉnh giấc chơi vơi...  ~ Hòa Bình 

Hồi làm ở nhật báo Người Việt, tôi thường bị anh rầy, thậm chí kỷ luật. Nhưng làm sao khi anh kỷ luật ai đó, lại mang đến cho họ cảm nhận của sự quan tâm ân cần. Những bài ký của anh cũng vậy, khi kể về mỗi sự kiện-nhân vật, đã thực tả không nhân nhượng ngay khi phải đề cập đến những "tính hư, tật xấu", nhưng qua đó người đọc dễ nhận ra sự tinh tế trong bất kỳ mối giao hảo nào của anh trong đời sống lịch nghiệm, đầy tính nhân văn. Anh viết với tất cả sự ân cần không chỉ đối với những nhân vật được nhắc trong tập Ký, mà còn đối với tất cả độc giả đang cầm quyển sách trên tay. ~ Uyên Nguyên





Trần Doãn Nho: Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ văn hóa Á Châu

Nhà văn Xu Xi. (Hình: festival.org.hk) 

Người ta ước tính, trong số 7 tỷ người trên trái đất, có chừng 2 tỷ người có thể nói được tiếng Anh, trong đó, khoảng 450 triệu người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, 500 triệu người nói tiếng Anh thông thạo, và chừng 1 tỷ người có thể nói tiếng ở một mức nào đó.

Cũng theo ước tính, riêng Á Châu có khoảng 800 triệu người có thể nói tiếng Anh. Có thể nói hiện nay, tiếng Anh trở thành một thứ ngôn ngữ chung (lingua franca) ở Á Châu, thường được sử dụng ở giới chuyên môn, ở các thành phần ưu tú, ở Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN), ở doanh nghiệp và ở cả trong lãnh vực văn chương.
Năm 2001, lần đầu tiên, Hồng Kông là nơi đã tổ chức một cuộc hội thảo văn chương quốc tế do “Hong Kong International Literary Festival” (HKILF) đứng ra tổ chức với sự tham dự của 30 nhà văn Á Châu thuộc nhiều quốc gia khác nhau, kể cả hai nhà văn được đề cử giải “Booker Prize Award” của Anh là Thimothy Mo (Hồng Kông lai Anh) và Romesh Gunesekera (Sri Lanka/Tích Lan).

Đàm Duy Tạo: CHƯƠNG 02: KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI


Hương Ngạn Đào Tử Đàm Duy Tạo
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp hiệu đính năm 2018



MỤC ĐÍCH VÀ CÁCH THỨC CỦA SỰ ĐÍNH GIẢI

Chính vì 5 lẽ nêu lên trong Chương 01 của cuốn sách này mà Truyện Kiều đã bị người sau hiểu lầm khá nhiều; tôi rất e sợ cho giá trị vô song của viên ngọc văn chương này có thể bị tổn thương nhiều vì những hiểu lầm đó, nhất là đối với tầm mắt tinh tế của các nhà khảo cứu cổ văn ở Âu-Mỹ đang ngưỡng mộ Truyện Kiều và tìm hiểu thêm cái hay, cái đẹp trong đó. Bởi vậy tôi phải đành liều không quản học lực nông cạn, tư tưởng suy quẩn, không sợ tiếng chê cười, mà mạo muội cố công tìm cách xóa bớt những hiểu lầm ấy đi, cho người khảo cứu được bớt mọi điều thắc mắc và việc tìm hiểu được dễ dàng hơn, và cho người thưởng thức truyện Kiều được dễ hiểu thấu hơn ý nghĩa của những câu văn “hàng hàng gấm thêu” này đẹp như thế nào.

Tôi sở dĩ làm tạm được việc này là nhờ còn được một quyển Truyện Thúy Kiều do hai ông Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ xuất bản (trong đó có nêu qua một số chữ và câu di động ở các bản khác) và may tôi còn nhớ được ít điều đã khảo cứu được khi trước, mặc dù ở nơi trơ trụi sách vở này. Công việc đính giải 訂解 như thế nào, nghĩa là việc so sánh các chữ, các câu khác nhau để tìm lấy một chữ hay một câu chính đáng nhất mà cải chính lại chữ hay câu sai lầm như thế nào. Tôi xin kể đại khái như sau đây:

Khi gặp những trường hợp mà mỗi bản in một chữ, hay một câu khác nhau, thì phải suy xét, cân nhắc rõ kĩ mà lựa lấy chữ nào đúng ý đúng nghĩa nhất ở trong câu, hay một câu nào hợp tình hợp ý nhất ở trong đoạn. Sự suy xét này cũng hơi khó vì các bản Kiều đều thường được chữ nọ, sai chữ kia, không chắc cứ nhất định vào một bản nào được. Nhà xuất bản nào mà chẳng khoe rằng bản của mình là theo đúng bản cổ! Thí dụ chữ “ngẫm” hay “ngắm” ở câu 147 “Trông người lại ngẫm đến ta” ở bản ông Kim thì để là “Trông người lại ngắm đến ta.” Tôi cho là “ngẫm” đúng hơn “ngắm” nhiều, vì Kiều thấy tướng Kim Trọng tốt quá – “chẳng sân ngọc bội, cũng phường kim môn”– thì nàng lại nghĩ đến tướng nàng có người thầy tướng đoán xấu quá – “nghìn thu bạc mệnh, một đời tài hoa” – mà nàng lo rằng không biết có kết duyên với chàng được chăng?

Thơ Hoàng Xuân Sơn



sau mưa
quý tặng nhà sư Thích Đăng Châu

len lén vào cười với mưa
cùng ru giấc đỗ bên chùa tịnh tâm
màu sen tinh khiết vô ngần
đóa thuyên trên biển búp vàng cánh sông
vào loang sắc với vân mồng
thuỳ nhiên còn cả rừng không đợi ngàn
chậm từ một bước tranh sang
mi xanh mày đẹp ôm đàn khải mơ
huyền hư với tuổi không ngờ
qua muôn thức dại cùng ngơ ngẩn tìm

Nguyễn Đức Tùng: TRẦN DẠ TỪ, THUỞ LÀM THƠ YÊU EM (Tiếp theo và hết)


Trần Dạ Từ & Jim Webb, Capitol Hill, VA., Tháng Hai, 28, 1992

Nhiều năm sau, sau cuộc đổi đời của dân tộc, từ trong tù đầy, Trần Dạ Từ viết nhiều bài thơ mới, như "Hòn Đá Làm Ra Lửa"(3) . Thật ra đây không phải là lần đầu tiên Trần Dạ Từ phải đi tù và làm thơ trong tù. Thời 1963, Đệ nhất Cộng hoà, ông đi tù trong vài tháng, còn sau 1975, hơn mười hai năm. Trong năm 1963 ác liệt, ông viết những câu thơ dũng cảm, làm rung động lòng người:
Nửa đêm nàng bị bịt mắt dẫn về đó
Chúng tra khảo nàng để tìm chàng
Nàng bị cặp điện vào hai tai
bị cặp điện vào vú
Trong khi đó chàng ở sát cạnh nàng
Ở ngay trong tim nàng
Ở những nơi mình nàng rõ
(Thơ Viết Trong Tù 1963)

Ngô Nhân Dụng: Donald Trump nên nhớ lời Nguyễn Văn Thiệu

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018



Thứ Sáu tuần tới, tổng thống Nam Hàn sẽ gặp chủ tịch Bắc Hàn trong vùng phi quân sự. Cuộc gặp gỡ sẽ chỉ có tính cách tượng trưng kết thúc với những lời hứa hẹn; khó đưa tới kết quả nào cụ thể. Ông Moon Jae-in không thể ký kết với ông Kim Jong Un điều gì quan trọng, vì phải nhường quyền quyết định cho tổng thống Mỹ khi ông Donald Trump gặp Kim vào tháng tới.
Nhưng Tổng Thống Trump sẽ quyết định những gì khi gặp Kim Jong Un?
Không đoán trước được. Vì Kim và Trump đều khó đoán như nhau.
Điều mà người ta lo ngại là ông tổng thống Mỹ sẽ nhượng bộ nhà độc tài trẻ tuổi ở Bắc Hàn trước khi được đáp lại với hành động cụ thể.

Ts. Nguyễn Hữu Phước: CHỮ VIỆT THUẦN CHỈ SỐ 1, 2, &10


Trước khi vào chi tiết về những chữ số Hán Việt, chúng ta lược khảo qua về những chữ số Việt thuần.  

Con số một được dùng trong dân gian dưới nhiều hình thức phong phú qua những chữ số Việt thuần nầy. Rất nhiều bài nhạc, câu thơ, và những câu ca dao, tiếng nói của văn học bình dân, sử dụng hết sức tài tình những chữ đồng nghĩa hoàn toàn Việt Nam của con số một, số 2, và số 10.  

CHỮ VIỆT THUẦN CHỈ SỐ 1

Chúng ta có những chữ Việt thuần cùng nghĩa: từng, mỗi, lẻ, chiếc, và một.

Nguyễn Đức Tùng: TRẦN DẠ TỪ, THUỞ LÀM THƠ YÊU EM


Trần Dạ Từ & Jim Webb, Capitol Hill, VA., Tháng Hai, 28, 1992

Tình yêu thám hiểm những bí mật của con người. Không ở đâu người ta có thể hạnh phúc hơn hay tuyệt vọng hơn, hèn yếu hơn hay cao cả hơn, như trong tình yêu.

Em ngồi đây, ngồi sát nữa, người thương
Kìa những ngày thơ rụng đỏ chân tường
Kìa sự sống như những chiều bãi biển

Thơ Trần Dạ Từ là tình yêu thời mới lớn, say đắm vụng về, và tình yêu của người đứng tuổi, trải qua hoạn nạn, tù đầy. Đó là tiếng thơ giàu vần điệu, không có nhiều khai phá về ngôn ngữ; tuy vậy khả năng đào sâu của tác giả vào các đề tài tưởng như đã rất cũ,  từ đó mở ra những ngã rẽ cảm xúc làm người đọc bất ngờ. Trong thơ Trần Dạ Từ có một nỗi buồn rầu, phiền muộn, như khái niệm blue của người Mỹ, mặc dù thế, thơ ấy không tuyệt vọng, than thở, bi lụy. Ngôn ngữ bám rễ vào đời sống thành thị, dân nghèo, tầng lớp cơ cực. Sự dằn vặt, lối nghĩ ngợi, phân vân, là tiêu biểu cho những người trẻ tuổi trong một xã hội tự do và lo âu, chứa mầm loạn lạc từ bên trong hoặc bên ngoài. Thơ ông như lời độc thoại có kịch tính, lời nói không hướng tới người đọc mà hướng tới một nhân vật nào khác, có mặt trong bài thơ hoặc ngoài bài thơ, đứng đâu đó trước mặt chúng ta. Ngôn ngữ ấy tìm cách ghi lại ký ức, phản ánh đời sống cùng thời, đời sống trí thức không chịu thỏa hiệp.

Tôn Nữ Thu Nga: Dẫn cháu đi chơi


Nhân dịp các cháu được nghỉ học một tuần đầu mùa xuân, ông bà Ngoại bèn dẫn hai thằng bé đi du lịch. Năm nay Evan vừa tròn mười tuổi và Jake cũng còn ba tháng nữa là bảy tuổi. Chúng là hai thằng bé sinh động, trừ khi cầm máy Ipad trên tay, chúng luôn luôn nhảy nhót leo trèo, khuấy phá lẫn nhau, đánh nhau và khóc. Chỉ có Jake là hay khóc mỗi khi bị Evan đá hay đấm cho một cái tuy không đau lắm thì cu cậu khóc cho đến khi nào Evan bị la hay khi bà Ngoại ôm vào lòng thì mới yên.
Thường thì ông bà Ngoại lâu lâu mới giữ cháu một lần cho vợ chồng con gái đi tiệc tùng, hoặc vài tuần mới thăm viếng cháu một lần. Biết rằng chúng nó phá như giặc nhưng lòng bà Ngoại chưa biết sợ vì bà Ngoại nghĩ rằng : nếu khi xưa mình giữ được con và dạy dỗ cho nó nên người thì mình …cũng giữ được cháu!!!
Chuyến du hành này Ông bà Ngoại dẫn hai thằng giặc đi chơi San Antonio – Tiểu bang Texas. Địa điểm này được chọn vì nhiều lý do: lịch sử Alamo, River walk (con đường đi bộ dọc hai bên bờ sông -rất nổi tiếng tại San Antonio) và nhất là vì ông bà ngoại chưa từng đi du lịch chỗ ấy.

Phạm Xuân Đài: HỒI ỨC TUỔI THƠ



Rt khó xác định hình nh sm nht trong đời mà mt người còn ghi nh được khi ln lên là gì. Đó là mt s hình nh ri rc, đôi khi mù m như t mt gic mơ. Mt đứa tr bt đầu nhn thc được thế gii ging như mt người va ng mt gic qua đêm thc dy vào lúc bình minh, và ý thc bt đầu hot động ging như ánh sáng ban ngày va ló dng. Nhiu hình nh còn ngái ng. Nhng hình nh khác l m vì bui sm chưa đủ ánh sáng. Nhưng t ch ging như gic mơ đó, nhn thc cng cáp dn, đi qua sut tui thơ để vào vùng trưởng thành. 
Tôi sinh ra ti làng Tiên Đào, ph Bình Sơn, tnh Qung Ngãi, nơi thy tôi dy hc mt thi gian dài vào khong t cui thp niên 1920 cho đến năm 1945. Thy tôi bt đầu cuc đời dy hc năm 1922 ti Phan Thiết, có đổi v Bình Định mt thi gian ngn, ri nhim s cui cùng trong thi Pháp thuc là trường Tiu hc ca ph Bình Sơn, nơi thy tôi làm hiu trưởng trong nhiu năm. Chc chn nhng hình nh đầu tiên còn nm trong trí nh ca tôi là thuc v khu ph l ca cái ph có nhiu núi thp (bình sơn) cc bc ca tnh Qung Ngãi y. Con sông Trà Bng chia ph l Bình Sơn làm hai, bên t ngn là khu hành chánh và trường hc, hu ngn sm ut hơn vi ch Châu và các tim buôn bán. Ni hai b là cây cu bê tông ca quc l 1.
 

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

Góp ý

Giới thiệu


Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)