Sunday, May 19

Báo Chí Miền Nam: Nhân kỷ niệm 38 năm ngày giỗ Chu Tử: Nhìn lại vụ Chu Tử bị ám sát hụt, ngày 16- 4-1966



Trùng Dương

Trong một buổi mạn đàm với vài người bạn trẻ, tôi được hỏi về kinh nghiệm với tờ Sóng Thần nói chung và với ông Chu Tử nói riêng. Tôi trả lời phần nói chung như đã trả lời trên tạp chí Hợp Lưu (*), rằng nhật báo Sóng Thần ra đời vào cuối năm 1971, với chủ trương chống tham nhũng trong chính quyền và quân đội nhằm làm sạch Miền Nam để hỗ trợ cho cuộc chiến đấu chống cộng sản bảo vệ phần đất tự do cuối cùng của Việt Nam. Sóng Thần là tờ báo đầu tiên ở Miền Nam mà tài chính là do các cổ đông thuộc mọi tầng lớp quan tâm tới vận mệnh đất nước đóng góp. Tờ báo trong giai đoạn đầu do ông Chu Tử làm chủ biên với sự cộng tác, tiếp tay của nhiều đồng nghiệp khác, và tôi đứng tên chủ nhiệm chịu trách nhiệm về pháp lý. Tôi cũng nói sơ về những đóng góp nghề nghiệp của tôi trong thời gian bốn năm, 1971-75, với tờ báo.


Khi nói tới kinh nghiệm làm việc với ông Chu Tử, một chi tiết chợt bật ra trong đầu mà đã từ lâu tôi quên bẵng đi mất. Đó là việc làm “ghost writer” cho người tự nhận đã bắn ông Chu Tử năm 1966, vào một giai đọan có thể nói là một trong các thời kỳ chính trị nhiễu nhương nhất của Việt Nam Cộng Hoà. Sở dĩ ký ức tôi không ghi đậm việc này vì có lẽ tôi không hề coi đó là một công trình gì đáng kể, vì đó chỉ là một loạt bài viết để câu độc giả, theo đề nghị của ông Chu Tử. Ngoài ra, việc thực hiện cái “hồi ký” đăng thành nhiều kỳ trên tờ Sóng Thần hoàn toàn đi ngược lại với quan niệm cầm bút của tôi sau này, khi đã trưởng thành và hiểu biết hơn. Tôi không phủ nhận việc mình đã làm, vì nhu cầu câu khách và trong một môi trường hoàn toàn thiếu sót tài liệu, chưa kể bên cạnh đó là sự non tay nghề của chính mình; nhưng tôi tin rằng nếu có dịp làm lại thì chắc chắn sản phẩm sẽ khác lắm với loạt bài hiện nằm trên microfilm Sóng Thần hiện được lưu trữ tại Đại học Cornell.

Bối cảnh Miền Nam giữa thập niên 1960 

Vào giữa thập niên 1960, tình hình ở Miền Nam khá đen tối. Quân đội vừa lật đổ chế độ mệnh danh là “gia đình trị” của ông Ngô Đình Diệm. Một số tướng lãnh thay vì rút về lo chuyện quân sự thì xoay ra thay phiên nhau cầm quyền, đảo chính chỉnh lý lẫn nhau, bên cạnh sự tranh chấp ảnh hưởng của các phe nhóm tôn giáo, đặc biệt là Phật Giáo sau nhiều năm bị đàn áp dưới chế độ của ông Diệm vốn nghiêng về Thiên Chúa Giáo, và các đảng phái chính trị. Trong khi đó, Mặt trận Giải phóng Miền Nam, tắt là Việt Cộng, do đấy cũng bận rộn thừa nước đục thả câu nhằm lũng đọan tình hình bằng những vụ khủng bố phá hoại ám sát, gây hoả mù, hết sức hỗn loạn, khiến Hoa Kỳ vô cùng quan ngại cho công cuộc chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản trong cuộc Chiến Tranh Lạnh dạo ấy. Tôi vẫn nghĩ, khác với nhiều người cho rằng Mỹ đã có dự mưu từ trước đem quân vào Việt Nam, tình hình bất ổn tại Miền Nam trong giai đoạn này đúng ra là một trong những nguyên nhân đã thúc đẩy Hoa Thịnh Đốn phải đưa quân ồ ạt vào Nam Việt Nam. Đây là một quyết định đã hẳn là vô tình tạo cho cộng sản một “chính nghĩa”, đó là “chống Mỹ cứu nước”. 

Là một người cầm bút thẳng thắn, bộc trực, có sao nói vậy, thấy điều gì chướng tai gai mắt thì không thể bỏ qua, ông Chu Tử, lúc ấy đang là chủ nhiệm nhật báo Sống, đã “lùa” không thiếu các nhân vật tai mắt đương thời không phân biệt đảng phái, ý thức hệ, tôn giáo, giai cấp mà ông cho là bất xứng hay đạo đức giả vào mục “Ao Thả Vịt” được rất nhiều người đọc. Mà người đọc thì đa số đọc gì tin nấy, ít thắc mắc, tin riết rồi tưởng thật, không cả cần biết là đã gọi là “Ao Thả Vịt” thì chỉ có một phần nào sự thật trong đó. Nhìn lại, tôi phải nhận là mình vừa phục vừa hãi cho người coi ao vì đã làm một cái việc quá can đảm trong một cái môi trường hết sức nhố nhăng đầy súng ống, thuốc nổ và đầu óc cực đoan, nếu không là Việt Cộng nằm vùng thừa nước đục thả câu, của thời buổi ấy.

Do đấy, bên cạnh những người thích đọc ông, cũng không thiếu người thù ghét ông, vì lý do này hay động lực khác, chính trị, tôn giáo, kể cả ghen tị cá nhân vì sự thành công của ông Chu Tử. Thật vậy, có thể nói ông Chu Tử là một trong một số rất ít người cầm bút, cả bên văn chương lẫn báo chí ở Việt Nam từ trước tới nay, trong cũng như ngoài nước, đã thành công và được nhiều người biết đến như vậy.

Chu Tử: nhà văn kiêm nhà báo thành công vượt bực

Xuất thân là một nhà giáo, ông Chu Tử (1917-1975) bắt đầu viết tiểu thuyết đăng từng kỳ vào cuối thập niên 1950, và là tác giả của những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng được nhiều người tìm đọc, như Yêu, Sống (tức Loạn), Ghen (tức Nắng), và Tiền. Trong đó, cuốn Yêu nổi tiếng hơn cả và đã từng được tái bản, về mối tình giữa thầy giáo Đạt và cô Diễm, con gái của ông giáo Thức là bạn của Đạt. Yêu sau được dựng thành phim, do đạo diễn kiêm nhà văn Đỗ Tiến Đức thực hiện vào năm 1973. Rồi ông Chu Tử nhẩy vào làm báo, cũng được nhiều người thích, tìm đọc. 

Về văn nghiệp của Chu Tử, nhà văn Võ Phiến -- tác giả của nhiều sách truyện, tùy bút, biên khảo trước và sau 1975, và đặc biệt hơn cả là bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan (1986, 1992), về 20 năm văn học Miền Nam, gồm bẩy cuốn -- đã nhận xét về Chu Tử, như sau: “Chu Tử viết truyện được nhiều người khoái, mà làm báo cũng khiến lắm người khoái quá trời, bất luận là cao hay thấp, người ta khoái ông, khoái cái phong cách ông trong cuộc sống cũng như trong văn chương.”

“Trong tiểu thuyết của Chu Tử,” ông Võ Phiến viết tiếp, “có những nhân vật hoặc ngang tàng, bướng bỉnh, hoặc hào sảng, khí phách, hoặc nhiều khi kỳ cục.

“Hiệp tới nhà ông đốc phủ Thinh xin vệc, đã biết ông ta thân cộng, ông ta không ưa Bắc Kỳ, lại càng ghét Bắc  kỳ di cư; thế mà Hiệp cứ ngang nhiên xưng là thanh niên mới di cư vào Sài gòn, lại thách thức là trong vòng sáu tháng sẽ có thể làm cho cô con gái cưng của nhà này phải ăn rau muống (Loạn). Ông Xương đánh bạc thua, nổi đóa mắng tới tấp người này vung tay tát chéo người kia, người có quyền thế có sức mạnh hơn ông nhiều; thế mà rốt cuộc trước cơn giận ‘chính nghĩa’ kẻ gian phải sợ hãi, chịu khuất (Loạn). Trang là học trò của Đạt, một cô học trò xinh đẹp; thầy trò gặp nhau ba, bốn năm sau, Trang rất lễ phép cầm tay Đạt đặt lên mông mình hỏi: ‘Anh có biết cái gì đây không?’ (Yêu). Huyền là học trò Thanh, thầy trò yêu thầm nhớ trộm nhau trong bao nhiêu lâu. Về sau Thanh vào ở trong một ngôi chùa. Một hôm Huyền tìm đến, mân mê bàn thay Thanh và nói thẳng: ‘Em muốn được làm vợ anh, ngay bây giờ… ngay lúc này…’ Thanh hoảng hốt. Nhưng Huyền nhất định tiến tới. Và nàng ‘được làm vợ’ tức thì, ngay trong chùa (Tiền) v.v… Những con người như thế, giá nghe họ sống đâu đó ở ngoài đời, thiên hạ cũng ầm ầm đổ xô đến để tiếp xúc, để cho biết. Ngộ quá mà! Người ta ai chẳng tò mò muốn chứng kiến những cái ngộ nghĩnh, độc đáo? Hiểu con ai hiểu bằng cha mẹ, hiểu nhân vật không ai bằng tác giả; thì chính Chu Tử ông ta cũng thường nói đến các nhân vật của mình như là những con người ‘bốc đồng’, ‘bốp chát’, ‘ngổ ngáo’, ‘ngang ngược’, ‘cynique’, ‘tàn bạo’, là những ‘đứa trơ’, ‘trắng trợn’, ‘trâng tráo’ vv…

“Trong truyện cũng như ngoài đời, khác gì? Cái lạ thường thu hút mạnh.”  (**)

Trong văn chương đã vậy. Bước qua địa hạt báo chí, vì lối viết đơn giản, bộc trực, nên nhiều chuyện và nhân vật ông Chu Tử thả vào “Ao Thả Vịt” nghe cứ như thật một trăm phần trăm ấy, độc giả đọc nhiều người khoái tỉ, đem ra bàn tán. Do đấy, nhiều đối tượng bị ông lùa vô ao đã bất bình. Ân oán giang hồ cũng từ đấy mà ra.

Kết quả là tòa soạn báo Sống có lần bị đốt phá. Không ai biết ai chủ mưu đốt phá, nhưng có tin đồn là tay chân của Thượng tọa Thích Thiện Minh, người mới bị ông Chu Tử lùa vào ao kỳ cọ. Rồi vào buổi sáng ngày 16 tháng 4, 1966 chủ nhiệm Chu Tử vừa rời nhà ra xe để đi đến toà báo thì bị một trong hai tên lởn vởn ở đầu ngõ rút súng Colt 9 bắn bốn phát từ phía sau bên trái xe xuyên qua xe trúng ông, rồi leo lên xe gắn máy tên kia vẫn giữ máy nổ và tẩu thoát. Chu Tử bị ám sát trong vòng chưa đầy nửa năm kể từ khi ký giả Từ Chung của nhật báo Chính Luận bị bắn tử thương ngay trước nhà ông vào trưa ngày 30 tháng 12, 1965 khi ông về nhà ăn trưa. 

Số ông Chu Tử còn cao, nên dù bị trúng đạn gẫy xương quai hàm, mất mấy cái răng, song không có viên đạn nào đi vào chỗ phạm. Và ông đã thoát chết nhờ sự chữa trị tận tâm của các y sĩ và nhân viên tại Bệnh viện Cơ Đốc gần nhà ông ở vùng Phú Nhuận. Báo chí Miền Nam, chưa dứt cơn bàng hoàng trước cái chết của Từ Chung, lại rơi vào cơn rúng động khác với vụ Chu Tử bị ám sát hụt. 

Trong khi theo giõi tin tức về bệnh tình của Chu Tử, có thể nói hầu như cả Miền Nam cùng nhất loạt lên tiếng phản đối hành động man rợ của những kẻ dùng bạo lực đàn áp mong bịt miệng tự do báo chí và ngôn luận của giới cầm bút, đồng thời đòi hỏi chính quyền Miền Nam phải có những biện pháp bảo vệ giới trong tay chỉ có ngọn bút, và đặc biệt là phải ban hành luật báo chí công nhận quyền tự do ngôn luận. Điều đặc biệt hơn cả là chưa đầy một tuần sau ngày ông Chu Tử bị ám sát hụt, toàn thể làng báo Miền Nam đồng loạt nghỉ ra báo một ngày, đó là ngày thứ Năm 21 tháng 4, 1966, tức số báo đề ngày 22-4-66 “để tỏ tình đoàn kết báo chí trong việc tranh đấu chống đàn áp và kèm chế báo chí” và “nêu cao tinh thần tranh đấu chung cho tự do dân chủ.” (***) 

Tóm lại, việc Chu Tử bị ám sát không còn là việc một cá nhân người cầm bút bị mưu hại mà đã trở thành vấn đề quyền tự do báo chí và ngôn luận bị âm mưu triệt tiêu dù bất cứ do ai, phe nhóm hay cộng sản chủ động. Lần đầu tiên làng báo Miền Nam tỏ tình đoàn kết chặt chẽ chưa từng thấy trước đó.

Ai bắn Chu Tử?

Hầu như mọi người đều nghĩ Việt Cộng nằm ở phía sau vụ ám sát Chu Tử, cũng như trong trường hợp của Từ Chung, người mà trước khi bị hạ sát đã từng công khai lên tiếng báo động về việc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã nhiều lần đe dọa ông. Ông Chu Tử lại nghĩ  khác, và còn có vẻ quyết đoán, rằng thì là người bắn ông không thể là Việt Cộng.

Ngay sau khi hồi phục, ông Chu Tử đã viết một bài dài đăng thành nhiều kỳ trên báo Sống, sau được ban biên tập Sống gom lại in chung với những bản tin, bài viết, thông cáo, tuyên ngôn xung quanh vụ Chu Tử bị bắn trong tập sách tựa là Chu Tử Không Hận Thù.(***) Theo ông Chu Tử thì người bắn ông không thể là Việt Cộng được, vì tên này hành sự “tay non” không có tính nhà nghề và “nghệ thuật” cao như Cộng sản. “Trong vụ ám sát tôi, tôi nhận thấy kẻ sát nhân của tôi không những là một tay ‘non’, khờ khạo, chưa có kinh nghiệm gì, tôi còn nhận diện rõ sát nhân của tôi là một ‘anh em quốc gia (!)’. Ở điểm hắn còn lúng túng, vương vấn đôi chút lương tâm, nên đi ngang mặt tôi mà không dám bắn, chỉ đủ can đảm bắn vào sau xe, vào lưng, vào cổ, gáy tôi, chứ không dám nhìn thẳng vào mặt tôi để bắn.” (Chu Tử Không Hận Thù, tr. 69)

Vậy người bắn ông là ai, ông không nhất quyết. Nhưng ông nói, rất… Chu Tử và hào sảng, là ông sẵn sàng tha thứ, mong có dịp gặp người đã bắn ông để … cám ơn, “không phải một lần mà tới ba lần, vì kẻ sát nhân đã giúp tôi ba điều vô giá, dù có núi tiền núi bạc, cũng không mua nổi!” Điều thứ nhất là ông cám ơn kẻ sát nhân đã cho ông ăn bốn viên đạn mà ông vẫn sống để có dịp biết rằng mọi người, kể cả những nhân vật đã từng bị ông lùa vào “Ao Thả Vịt” cọ rửa kỹ lưỡng trước đây, đã quan tâm lo lắng cho ông và gửi thư, điện tới chúc ông chóng thoát cơn hiểm nghèo, đồng thời lên án bọn khủng bố. Và ông cũng tội nghiệp cho ông Từ Chung đã chết liền tại chỗ, không có dịp nhìn thấy người đời tiếc thương và ưu lo cho mình. 

Điều thứ hai khiến ông biết ơn kẻ sát nhân là “bốn viên đạn của kẻ sát nhân đã tạo cơ hội để bao nhiêu thù ghét mà ngòi bút oan nghiệt của tôi đã tích lũy từ bao năm nay, vụt tiêu tan biến thành lòng tha thứ. Tôi vốn là kẻ vô tâm, thương mình, thương người, nhưng khi tôi cầm bút, hình như có ma lực gì, xui khiến tôi trở thành tàn ác, ba que, xỏ lá đến cùng cực. Do đó từ mấy năm nay, các bạn cộng tác với tôi và tôi đã gây ra nhiều thù ghét không đâu.” Và ông Chu Tử hứa để đền đáp lại sự “đại xá” của kể cả những người thù ghét ông song đã ưu lo cho ông khi ông bị bắn suýt chết, ông công khai xin lỗi và “tuyên bố từ nay sẽ không bao giờ còn ‘hỗn’ với ai” nữa.

Và điều thứ ba khiến ông thấy muốn gặp kẻ sát nhân để cám ơn vì – đây là điểm nói lên bản chất hồn nhiên lãng mạn của Chu Tử -- nhờ bốn viên đạn đưa ông tới gần cái chết mà ông có kinh nghiệm của kẻ đã kề cận cái chết, rất hữu ích cho việc… sáng tác vì ông đã có kinh nghiệm thực, không còn phải nặn óc tưởng tượng ra nữa. (CTKHT, tr. 66-67)

Người tự nhận đã bắn Chu Tử

Và ông đã… cầu được ước thấy. Kẻ ấy, hay người tự nhận đã bắn ông, cuối cùng tìm tới ông Chu Tử vào một buổi tối vào đầu thập niên 1970, trong lúc ông đang làm chủ biên nhật báo Sóng Thần.

Một bữa nọ, ông Chu Tử ghé bàn làm việc của tôi, nói ông muốn gặp riêng tôi có việc. Tôi ngước nhìn ông, ngạc nhiên, vì chưa bao giờ ông lại muốn gặp riêng với tôi, mà bao giờ cũng có vài anh em trong nhóm chủ biên hoặc ban biên tập. Tôi đứng dậy theo ông lên phòng khách ở lầu ba của toà nhà chúng tôi muớn làm tòa soạn ở số 133 đường Võ Tánh, Sàigòn dạo ấy. Thực ra thì chúng tôi chỉ mướn có tầng trệt và lầu hai để làm tòa soạn và trị sự (còn in báo thì mang bản kẽm sang nhà in Nguyễn Bá Tòng sát bên nhà thờ Huyện Sĩ trên đường Bùi Chu, cách tòa báo mấy khu phố), còn từ lầu ba trở lên là thuộc về gia đình của chủ nhà. Mỗi khi có việc riêng chúng tôi mượn phòng khách của gia đình chủ nhà để họp.

Ông Chu Tử tay run run (từ ngày bị bắn tay ông vẫn run như vậy) rút trong túi ra hai trang giấy viết tay đưa cho tôi, trên đó ông ghi lại cuộc gặp gỡ với tên đã bắn ông, và đề nghị tôi viết lại cái “hồi ký” của tên sát nhân đăng thành nhiều kỳ trên báo. Theo ông thì một hồi ký như vậy sẽ rất “ăn khách”, mà tờ báo thì lúc nào cũng cần những bài nằm “ăn khách” như vậy để giữ độc giả. 

Cũng phải thẳng thắn mà nhận rằng sau mấy tháng đầu sôi nổi và được độc giả chiếu cố khi tờ báo mới xuất hiện vào cuối năm 1971 với sự hiện diện của ông Chu Tử trong vai trò chủ biên, tờ Sóng Thần, với chủ trương chống tham nhũng, hơi lao đao, từ trên 100 ngàn ấn bản mỗi ngày tụt xuống dần còn dăm bẩy chục ngàn, và có triển vọng tụt xuống nữa. Một phần tờ báo bị chính quyền tịch thu hơi nhiều lần, lúc thì vì lý do an ninh quốc gia khi thì vì tội xâm phạm thuần phong mỹ tục, hoặc bị các cá nhân thưa kiện. Điển hình là loạt bài của nữ ký giả Lê thị Bích Vân tố Tướng Nguyễn Văn Toàn về tội dụ dỗ gái vị thành niên, khiến cả Bích Vân lẫn tôi cùng phải vác chiếu ra hầu toà mấy lần. Đây là giai đoạn trước khi xẩy ra biến cố Mùa Hẻ Đỏ Lửa 1972, biến cố đã khiến tờ báo, nhờ sự tiếp tay đắc lực của hai văn phòng đại diện Quảng Trị và Huế với những tin tức cập nhật sớm hơn nhiều báo khác, bỗng lại lên như diều gặp gió. Nhất là sau đó Sóng Thần phát động chiến dịch hốt xác gần 2,000 đồng bào tử nạn trên Đại Lộ Kinh Hoàng (khúc giữa Quảng Trị và sông Mỹ Chánh) đã được sự tham gia của đông đảo độc giả.

Thú thực là tôi chưa hề làm “người viết ma” (ghost writer) cho ai bao giờ. Thế nhưng vì thương tờ báo, công trình đóng góp và kỳ vọng của nhiều người, và sự sống còn của nó để phục vụ lý tưởng làm sạch xã hội chúng tôi theo đuổi hồi đó, nên tôi không chút đắn đo nhận lời làm người viết ma cho người bắn ông Chu Tử.
Tôi không còn nhớ hết nội dung của hai trang giấy ông Chu Tử trao cho tôi. Nhưng đại khái, theo ghi nhận của Chu Tử, thì người nhận đã bắn ông thú nhận là anh ta là một Phật tử theo phe Thượng tọa Thích Thiện Minh, người đã bị ông Chu Tử lùa vào “Ao Thả Vịt”. Và anh ta bất bình về việc thần tượng của mình bị bôi nhọ, chứ anh ta không có dính dáng gì tới Việt Cộng. Luận điệu này phù hợp với lối suy luận của Chu Tử trong bài tự truyện “Chu Tử trong những suy nghiệm sinh tử của bản thân” in lại trong tập CTKHT, như đã đề cập tới ở trên. Và tôi đã dựng nên một “hồi ký” trong chiều hướng đó, dựa vào vỏn vẹn có hai trang giấy viết tay ghi lại cuộc gặp gỡ với kẻ tự nhận bắn mình của ông Chu Tử, với rất nhiều… tưởng tượng. 

Viết lại kinh nghiệm này tôi cũng còn có một mục đích, đó là nếu có ai tình cờ đọc lại cái “hồi ký” (hình như tựa là) Tôi bắn Chu Tử trên microfilm báo Sóng Thần thì nên hiểu là đó chỉ là một loạt bài hoàn toàn do tuởng tượng của một người quen với việc sáng tác văn chương hơn là làm báo trong thời kỳ đầu thập niên 1970, nhằm câu độc giả, và hoàn toàn không có một giá trị văn học hay lịch sử nào. Người bắn ông Chu Tử không hẳn là đã có dụng ý tôn giáo. Và người đến gặp ông Chu Tử có thể có dụng ý nào khác, không ai biết được. Cũng có thể đây là một đòn của Cộng sản hồi ấy để đào sâu thêm những xung đột tôn giáo ở Miền Nam, vốn là nghề của họ, bên cạnh các hành động khủng bố, phá hoại. 

Ai mới thực sự là người bắn Chu Tử?

Khi sưu tầm tài liệu để viết bài về ông Chu Tử, tôi tìm thấy trên Wikipedia.org có đoạn này: “Vì chính kiến, tòa báo [Sống] bị Lực lượng Tranh thủ Cách mạng của phe Phật giáo cực đoan tấn công năm 1966.[4] Cũng vào thời điểm đó ông [Chu Tử] bị mưu sát gần nhà, bị trúng đạn nhưng thoát chết. Cuộc biệt kích này do Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam chủ trương.[5]”

Tôi tìm đọc chú thích số 5 bên dưới bài viết rất sơ sài về Chu Tử với một số chi tiết không chính xác lắm, thì thấy ghi nguồn là “Captured Documents (CDEC): Report of Viet Cong Plan of Assassination and Terrorist Action in Saigon City (4 pages) 15 May 1967”, nhưng không có đường dẫn (Web link) đến chỗ chứa tài liệu trên mạng. Tìm một hồitrên Internet không ra bản tường trình này, tôi liên lạc với chị bạn tại Vietnam Center để nhờ tìm tài liệu trên, chị chuyển tôi qua một người chuyên về loại tài liệu bắt được của địch  này. 

Cuối cùng tôi có được cái link để tải xuống tài liệu mang số F034600991054 (****), trong đó có ghi tên đặc công Việt Cộng đã có nhiệm vụ hạ sát hai ký giả Từ Chung và Chu Tử: Huỳnh Văn Long. Do thành tích này, Long đã được thưởng huân chương thành tích đệ tam đẳng của Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Tôi có hỏi xin bản sao nguyên tác bằng tiếng Việt nhưng được biết thường sau khi làm tường trình xong thì các tài liệu nguyên thủy bị hủy bỏ. Vậy xin ghi lại để rộng đường dư luận.

Một nén hương cho ông Chu Tử

Ngày 30 tháng 4 năm nay cũng là kỷ niệm 38 năm ông Chu Tử bị tử nạn trên đường di tản. Tôi viết bài này như một nén hương chân thành tưởng niệm một nhà văn và nhà báo tên tuổi và cũng rất độc đáo của nền văn học Miền Nam, đồng thời điều chỉnh lại một số chi tiết xung quanh vụ ông Chu Tử bị ám sát hụt vào năm 1966. Tôi không có ý chống báng suy đoán về người giết mình của ông Chu Tử, có chăng là tôi muốn nói lên sự thích thú của tôi về tính hồn nhiên cả tin khá lãng mạn của tác giả Yêu -- một cái tật mà chính tôi cũng mắc phải (và hãnh diện mang cái tật đó). 

Cuối cùng, lẽ ra bài này đã được đăng trong một tập san đặc biệt tưởng niệm và vinh danh ông Chu Tử, nhưng dự tính của một số thân hữu văn nghệ và tôi đã không thành. Riêng tôi, đã tự hứa phải có bài này để tưởng nhớ ông, nên viết. [TD, 2013/04]
Hình ảnh:
   
Hình trên bên trái, ông Chu Tử Chu Văn Bình, chụp hồi làm chủ nhiệm nhật báo Sống, Saigòn, trước khi bị bắn. (Ảnh Internet) Phải, sau một tuần nằm bệnh viện sau khi bị bắn, ông Chu Tử, tay cầm khăn che miệng đứng sau nhà văn Duyên Anh (ngồi) và giữa nhà văn Nguyễn Thụy Long (áo đen bên trái) và nhà thơ trào phúng Tú Kếu (có râu cằm, bên phải), đến thăm anh chị em biên tập tại toà sọan báo Sống ngày 22 tháng 4, 1966. (Ảnh trích Chu Tử Không Hận Thù, Sống, 1966)

Chú thích:
(*) Lê Quỳnh Mai phỏng vấn Trùng Dương: http://www.hopluu.net/D_1-2_2-117_4-355_5-4_6-2_17-15_14-2_10-92_12-1/. Đọc thêm về kinh nghiệm Sóng Thần của Trùng Dương qua bài tùy bút “Sao Đặc Trời” tại http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=B6288EE8499620DDDEAB8855654C4363?action=viewArtwork&artworkId=8636 
(**) Võ Phiến, “Chu Tử,” Truyện Miền Nam, 1954-1975, tập hai, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, Westminster, Calif., 1993, tr. 10-11.
(***) Chu Tử Không Hận Thù, Nhật báo Sống biên soạn và xuất bản, 1966, Sàigòn, Viet Nam; Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, 1987 (?). Sách dầy 200 trang, gồm bẩy phần: 1) Chu Tử trước mũi súng sát nhân, ghi nhận các sự kiện xung quanh vụ Chu Tử bị bắn, ; 2) Chu Tử trong cơn phẫn nộ thương yêu của công luận, ghi nhận phản ứng của đồng bào các giới với vụ khủng bố; 3) Chu Tử trong những suy nghiệm sinh tử của bản thân, là tập tự truyện của Chu Tử viết sau khi anh đã đối diện với cái chết, tr. 65-105; 4) Chu Tử trước ngòi bút thân ái của các văn hữu, gồm những bài viết đặc biệt về Chu Tử; 5) Chu Tử và anh em Sống; 6) Chu Tử và phản ứng chung của báo giới trong và ngoài nước; và 7) Chu Tử và vài hình ảnh vụ mưu sát. Sách hiện được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội và các thư viện công cộng tại những vùng có đông người Việt cư ngụ tại Hoa Kỳ. Độc giả có thể nhờ thư viện địa phương mượn giùm qua chương trình Interlibrary Loan.
(****) Captured Documents (CDEC): Report of Viet Cong Plan of Assassination and Terrorist Action in Saigon City,  15 May 1967, Folder 1054, Box 0099, Vietnam Archive Collection, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech University. Web link:  http://www.vietnam.ttu.edu/virtualarchive/items.php?item=F034600991054. 

Read more »

DĐTK - TRIỂN LÃM VÀ HỘI THẢO VỀ BÁO PHONG HÓA NGÀY NAY VÀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN



DĐTK

Cách đây 80 năm, một làn gió mới đã thổi vào làng báo và làng văn Việt Nam, làm thay đổi hẳn diện mạo của báo chí và văn học nước ta và ảnh hưởng còn tiếp tục đến ngày hôm nay. Đó là sự xuất hiện của hai tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn vào đầu thập niên 1930 tại Hà Nội. Hai tờ báo và các tác phẩm của văn đoàn này đã đưa ra những cái cách xã hội, đả phá những hủ tục, đề cao tự do cá nhân, giải phóng phụ nữ, hô hào sửa đổi y phục phụ nữ, hô hào xây kiểu nhà Ánh Sáng cho người nghèo, phổ biến lối văn trong sáng giản dị, đã lãnh đạo và đưa đến toàn thắng phong trào "thơ mới", và đặc biệt đã thành công lớn trong lãnh vực sáng tác tiểu thuyết... Ảnh hưởng những cải cách và văn chương của Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn đã nhanh chóng lan tràn khắp nước từ thập niên 1930 đến năm 1945, và tiềm tàng trong xã hội Việt Nam lâu dài về sau.


Thời Việt Nam Cộng Hòa các tác phẩm văn học của Tự Lực Văn Đoàn đã được tái bản phổ biến rộng rãi, đồng thời được đưa vào giảng dạy trong chương trình Việt Văn của bậc trung học. Cùng thời gian ấy tại miền Bắc tác phẩm TLVĐ bị cấm đoán gắt gao, cùng với sự bôi nhọ có hệ thống văn đoàn này của nhà cầm quyền cộng sản.

Nhằm ôn lại thời kỳ phát triển đầy tài năng và mới mẻ này của nền Văn học Việt Nam, tạp chí online Diễn Đàn Thế Kỷ dự trù sẽ tổ chức một cuộc Triển Lãm và Hội Thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn vào hai ngày 6 và 7 tháng 7, 2013 tại Hội trường nhật báo Người Việt. Với sự yểm trợ của gia đình các thành viên TLVĐ và báo Phong Hóa Ngày Nay, nội dung triển lãm sẽ gồm nhiều hình ảnh của hai tờ báo Phong Hóa Ngày Nay và các tác phẩm TLVĐ, hình ảnh các thành viên TLVĐ, các văn kiện và hình ảnh liên quan đến thời kỳ hoạt động báo chí và văn chương của nhóm, các tác phẩm TLVĐ đã được dịch sang tiếng nước ngoài, các họa phẩm của các họa sĩ cộng tác với PH NN và TLVĐ v.v... Phần hội thảo sẽ có sự đóng góp của nhiều học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học và đại diện gia đình các thành viên của TLVĐ và báo PHNN, nhằm giới thiệu vai trò của báo chí trong việc khai phá trên nhiều mặt văn chương và xã hội, như phổ biến thơ mới, kịch mới, nhạc mới, y phục mới, cách làm báo mới... Về mặt văn chương sẽ có những nghiên cứu sâu từng tác giả và tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn.

Chi tiết về chương trình triển lãm và hội thảo sẽ được thông báo sau.


Read more »

Nguyễn Văn Thà - Calella



Nguyễn Văn Thà


Calella*, Calella!
Biển xanh bao la
Xoa dịu
             lòng ta
Vỗ về ngày qua
Gần sáu mươi tuổi đời vất vả
Những ngày mưa bùn đọng quê nhà
Những tháng tuyết não lòng nơi đang ở
Mới đây thôi mà đã hai mươi năm
Cha mẹ ta đã đổ
Chị em xa xăm


Càng vá víu đời ta, càng đổ vỡ
Ôi, tình thương những vực thẳm tai ương
Ôi, tình yêu những bãi chiến trường
Mà kẻ lành thường là người thua cuộc

Ta thương các con
Tuổi nhỏ trăng tròn
Lăn má non giọt nước mắt tròn
Ta ném bùn, vẫn âm thầm sau sạch
Ta bỏ bê, vẫn trí tuệ lòng son

Ta ôm vào lòng chữ nghĩa văn chương
Những cuốn truyện co thắt trong bụng trướng
Những câu thơ cửa mình tìm hướng
Thời gian giục giã lên đường

Bạn bè, ta chẳng có ai
May mắn còn được quạnh quẽ
Bạn bè chỉ là đồng cắc lẻ
Trong canh bạc lớn chốn trần ai

Những tôn giáo cho ta những giải nghĩa
Về đời sau
Những giải nghĩa đủ sắc màu
Cứ loay hoay gắp ta bỏ đĩa

Những người đàn bà cho ta định nghĩa
Về đời mau
Những định nghĩa vô nghĩa
Ê chề chờ ngày ra nghĩa địa

Chỉ còn các con ta* mỗi đứa đi mỗi phía
Sa mạc, đồng xanh trồng tỉa những mùa sau

Calella, 15 V 2013
Nguyễn Văn Thà

*Đọc là Ca-lê-da, thị trấn cách thành phố Barcelona 58 km về hướng đông bắc. Nơi nghỉ mát có bờ biển đẹp với bãi cát nâu hạt lớn, các khối đá sa thạch hình thù cổ quái dọc biển, nhiều hoa lạ thơm mùi lạ. Bờ biển đã được tặng giải thưởng European Quality Blue Flag.

*Trần Đình Hượu: “Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, có ma quỷ, thần phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cho cháu hơn là linh hồn của mình.” (Talawas, bài Về vấn đề tìm đặc sắc hoá dân tộc, đoạn 5)

Read more »

Võ Phiến - Giã Từ




Võ Phiến

(Tiếp theo)

(7)

Tôi nhớ lại buổi chiều anh Toàn trở về Qui Nhơn để đặt mìn và sống những giờ ngây ngất đầu tiên. Xung quanh tôi bây giờ dây antigone hãy còn mọc tràn lan trên các khu vườn trống, tràn ra đến ngoài đường, hãy còn dây thép gai rào chắn ở nhiều ngả đường... Quang cảnh chắc không khác xa ngày đó là bao.


Tôi ngừng chân trước cổng chùa Tịnh Quang, cửa chùa mở trống, để cho mình nhìn suốt sự tĩnh mịch từ trước ra sau. Trăng sáng. Tiếng dế kêu ran ran. Một mình đứng bên cái bóng đen đồ sộ của ngôi chùa ngã xuống đất trắng im lặng, đêm khuya không có một hơi gió, cây lá đứng im lìm trịnh trọng khó hiểu, tự nhiên tôi thấy bị uy hiếp bởi cái cảm giác rờn rợn lướt trên sự hoang tàn: “Loan đi rồi. Toàn chết rồi. Chị Toàn cũng sắp ra đi có lẽ đến tuyệt tích. Phong thành ra người bỏ. Sau khi cơn lốc hạ xuống, lẽ đâu chỉ còn lại mình tôi trơ trọi ở lại với vợ chồng ông Ba Thê Đồng Thời và ông bác già Đại Cuộc? Những người trẻ tuổi đầy khuyết điểm xấu xa lầm lạc, nhưng mà là một lớp trẻ, đã mang đi tản mác, có kẻ tận bên kia cuộc đời, hết cả sự ồn ào cuồng nhiệt!”
Tôi ngoảnh đi ngoảnh lại, lướt mắt trên cái thị xã vắng vẻ, trên đất trắng im lìm trước sau một ngôi chùa. 

Trong những ngày mà các người cán bộ theo nhau, níu lưng nhau, kẻ trước người sau kéo nhau đi rầm rập như trước một đổ vỡ, thì ông bác già của tôi ngơ ngác trước đại cuộc. Người ngoảnh sang bên này hỏi một câu, ngoảnh sang bên kia hỏi một câu, và được giải thích qua loa. Nhưng chừng nửa năm sau ngày đình chiến thì tôi biết rõ người bác già đã quên hết những lời giải thích.

Lúc bấy giờ người có vẻ tần ngần ngơ ngẩn: người đã bám sát theo Đại Cuộc ngược xuôi hồng hộc trong chín mười năm trời rồi, nay theo dõi trận đánh này, mai hồi hộp vì trận đánh kia, tháng này học tập một chủ trương, tháng nọ phổ biến một chính sách, lúc kêu gào đoàn kết hy sinh, lúc reo hò tranh đấu...; đến nay dừng lại, người bỗng thấy mệt nhoài, bao nhiêu gân cốt trong người như dãn cả ra. Người có cảm tưởng như mình đã không tự lượng sức, trót nhảy lên lưng Đại Cuộc như nhảy lên lưng con ngựa bất kham để cho nó lồng lên mà tế mà phi, để nó tung hoành thỏa sức. Đến khi tuột xuống khỏi lưng con ngựa Đại Cuộc, người lắc đầu nhìn lại nó với một cái nhìn vô cùng ngao ngán.

Khi ấy, bỏ rơi chính trị và thời sự, người lần hồi trở về những câu sách thánh hiền, những chuyện khí tiết nhà nho v.v... như kẻ ngao du mệt mỏi quay trở về quê hương. Ông bác già của tôi rời bỏ cổ nhân mà đua chạy theo thời sự như thể cái dây cao-su bị kéo nhằng ra, đến khi buông thả nó, nó lại thun về chỗ cũ: bác tôi lại quay với cổ nhân. Nếu đức vạn thế sư biểu hiểu rằng bác Đại Cuộc của tôi lần này lắc la lắc lư bước về cửa Khổng sân Trình những bước nặng nề uể oải như thế nào thì chắc ngài cũng đâm phân vân trước cái danh dự của mình.

Dĩ nhiên cũng như năm nào tung hoành vì đại cuộc, lần này phục hưng thánh đạo, bác tôi cũng chỉ hoạt động bằng mồm. Như thế lại cần đến ông Ba Thê, vì thời giờ để phiếm đàm thì không ai có thừa thãi bằng ông Ba Thê. Chẳng hạn bác tôi chủ trương rằng nho học bao giờ cũng hợp thời, nhà nho thời nào cũng có kẻ sáng suốt; để chứng minh, người đưa ra ông Nguyễn Trường Tộ:
— Ông Nguyễn Trường Tộ là một ông thánh, ngài biết hết các thứ tiếng trên thế giới. Giả tỉ ông Trương Vĩnh Ký giỏi một lần, thì ông Nguyễn Trường Tộ giỏi mười lần.

Ông Ba Thê cũng là kẻ học thức, nhưng ông ta không phải đã học đến những điều như thế. Ông ta bày tỏ một sự tò mò khuyến khích. Và bác tôi giải thêm:
— Những tờ điều trần của ngài, ông đội không biết sao? Ngài nói một vạn lời thì sau này mở ra coi trúng hết vạn chuyện. Nhưng mà hồi đó không ai nghe theo nên mới mất nước. Lúc ngài chết cái bụng cứ chướng lên, chướng to lên mãi thành ra tròn vo, không làm sao đậy nắp quan tài được. Sau, có một ông bạn đồng liêu tới bên quan tài nói nhỏ rằng đó là thứ máu uất nó dồn lại bởi sinh thời ngài tâu phải mà vua không nghe. Trúng ý, cục máu uất tan liền; từ trong bụng xì ra máu ướt lênh láng, rồi bụng xẹp xuống...

Ông Ba Thê phác một cử chỉ vu vơ, tỏ một sự kính phục rất có chừng mực, điều độ. Bà Ba Thê kêu lên:
— Tội nghiệp chưa!

Rồi vội vàng đưa chéo khăn lên chùi nước trầu chảy leo ra bên mép, chùi rất kỹ lưỡng.

Bác Đại Cuộc của tôi nghĩ cần thêm một chú thích cuối cùng:
—Truyện ông Nguyễn Trường Tộ có trong sách.

Bà Ba Thê làm như vừa bắt gặp điều hệ trọng nhất trong câu chuyện:
— Thiệt vậy hả? Tội nghiệp!

Kỳ thực đó là sự lễ phép của bà ta. Khi nào sực nhớ tới, bà liền tỏ thái độ vồn vã với kẻ đối thoại mà không kịp chú ý đến câu nói của họ. Sự rủi ro nhiều lần khiến bà Ba Thê rơi đúng vào những câu lạt lẽo nhất của người khách: khách tỏ vẻ ngạc nhiên trước, bà Ba Thê ngạc nhiên sau, không bao giờ ngờ rằng cái ngơ ngác là do ở sự lễ phép của mình mà ra.

Nhưng ông bác Đại Cuộc lần này không ngạc nhiên. Người đang phát huy cái hay cái giỏi của một đấng tiền nhân khác:
— Nhật nó cố tìm ngôi mộ đức Quang Trung Nguyễn Huệ ghê lắm.

Ông Ba Thê hỏi:
— Chi vậy?

— Hồi năm 1944, nó qua Đông Dương lần đầu tiên là cốt để tìm mả Nguyễn Huệ đấy! Nó biết ơn lắm...
—     ...?

— Hồi trước, vua Quang Trung có cho quân qua giúp vua Minh Trị. Nếu không có thì Nhật bị Tàu lấy mất nước rồi còn đâu.

— Cụ cũng biết rõ chuyện đó nữa sao?

— Thì chuyện đó có ghi trong một quyển sách mà.

Trong sự hiểu biết mơ hồ của bác tôi, “có ghi trong sách” là có ghi chép đâu đó vào một nơi vô định mà chắc chắn, cũng tựa như số mệnh con người được ghi vào quyển sổ của Nam Tào, không sửa đổi được. Bác tôi chẳng phải là người nho học nhiều chữ nghĩa. Ít nữa cũng trên nửa thế kỷ người không có duyên hội ngộ với sách vở. Cho nên tất cả những điều người nhân danh sách vở đem ra quảng bá đều nhuốm một tính cách ly kỳ huyền hoặc.
Ông Ba Thê cũng hâm mộ những chuyện ly kỳ, bởi cái khiếu ham thích những tuồng tích hát bộ xưa kia còn sót lại. Nhưng ông ta không có một lòng tín nhiệm mơ hồ nơi sách vở theo kiểu ông bác Đại Cuộc: ông ta là người của thời thế, những kiến thức của ông ta toàn do ở thời thế cung cấp. Ngày nay, thay đổi một thời đại, rồi ông biết lựa chiều để chứng tỏ rằng mình hợp thời, ông tỏ bày sự hoài nghi rẻ rúng chế độ trước ra mặt:
— Hôm nọ, nghe bảo Hồ Chí Minh sang Nga họp hội nghị. Hừm! Hồ Chí Minh đâu còn? Ông ta bỏ mạng lâu rồi. Hồi còn kháng chiến ở Bắc Việt, trúng miếng bom ngang sườn, gãy ba chiếc xương, lủng bao tử một lỗ lớn, bác sĩ phải vá mãi không được. Trung Hoa có phái sang hai tay danh y: một bác sĩ Tây học với một y sĩ Tàu. Họ đi tới Vân Nam thì trông thấy vì sao chiếu mạng của Hồ Chí Minh lờ rụng đi, họ biết là tiêu rồi nhưng cứ đi gấp sang Việt Bắc, bí mật bày cho vài nhân vật tín nhiệm Việt Bắc giấu cái tin dữ đó, cứ tuyên bố là Hồ Chí Minh còn sống, rồi mài xương ông Hồ ra cho một người khác uống. Chẳng bao lâu người này giống hệt ông Hồ, ra mắt dân chúng không ai biết cả. Còn việc lãnh đạo chính quyền thì họ chia nhau nắm hết...

Ông Ba Thê Đồng Thời đã ghép ông Hồ Chí Minh vào một cái chết khủng khiếp. May mà đó không phải là trường hợp độc nhất. Cứ theo lời ông Ba Thê thì trước sau ít ra cũng có tới hai người Việt Nam bị mài xương. Người thứ nhất là ông Bảo Đại. Hồi còn nhỏ ông ta đi học bên Pháp, thực dân nó thấy rõ người có lòng yêu nước, nó ám hại, rồi mài xương cho một người học trò khác uống để thay thế Bảo Đại về làm vua.       Ông bác già của tôi nghe qua, không tán thành, không phản đối, người chỉ lắc đầu ngao ngán trước những lộn xộn vô thường của Đại Cuộc. Hết thảy các tay trọng yếu trên sân khấu chính trị hiện đại của ta đều do ngoại quốc nó chế tạo một cách xảo trá, giả dối như thế cả thì còn nói làm sao được, còn luận bàn tin tưởng làm sao được? Muốn tìm ra những người thật, chắc chắn là thật, không giả mạo, chỉ còn cách quay về các đấng tiền nhân, có ghi rõ ràng trong sách vở.

Ông bác Đại Cuộc không cần giỏi chữ nghĩa, không cần am hiểu nho giáo, không cần đọc thông sách vở; ông là một người dân Việt Nam, đến già lần mò tìm về thánh đạo, về cổ nhân, giản dị như là những kẻ lang bạt làm ăn thất thế trở về từ đường, như cọp già về núi để gửi xương.

Bác tôi không còn được bao nhiêu sức lực nữa, người cũng không còn minh mẫn để xoay xở khéo léo như ông Ba Thê trên công việc sinh sống, cho nên người túng quẫn rõ rệt. Trong những buổi luận đàm viễn vông, nếu là vào buổi sáng thì người nhấm nháp chén trà của ông Ba Thê, nếu vào buổi trưa buổi tối người cũng có khi không từ chối một vài món quà, vẫn của ông Ba Thê: một tô cháo gà, một bát mì, bát phở v.v... Người cháu gái ông Ba Thê thỉnh thoảng bắt gặp chuyện như thế, nàng chiếu một cái nhìn đầy uy quyền lên những chén trà và tô cháo mà bác tôi đang dùng. Tuy nhiên bà Ba Thê vẫn còn là người trọng khuôn phép gia đình, cho nên bác tôi khỏi gặp sự nhục nhã nào ồn ào làm kinh động đến các đấng tiền nhân trong câu chuyện. Trong đôi ba năm liền sau ngày ngưng tiếng súng, thỉnh thoảng tôi ghé thăm gia đình ông Ba Thê, như thăm lại dĩ vãng của mình, thì tôi vẫn an tâm trông thấy có bác tôi ở đó: hai người vẫn được nhàn hạ trong sự thiếu thốn triền miên của họ.

Tôi có lỡ lời nhắc xa xôi đến những kẻ vắng mặt, đến cái chết của người này, đến sự lạc loài vất vưởng của người khác, trước kia đều là xuất tự gia đình này mà ra, thì bà đội Ba Thê thở ra một cách nhẹ nhàng như sợ hơi thở của mình thổi chạm vào thời thế, vì bà biết gia đình mình đã dính líu quá nhiều vào các biến cố chính trị phái đảng. Bà nói:
— Những chuyện chúng nó làm, mình biết đâu được. Nhưng thời nào thì mình cũng cứ thương cho số phần chúng nó được chứ cậu? Không lúc nào là tôi không nghĩ đến chúng nó, tội nghiệp hết sức vậy đó.

Bà Ba Thê đưa bàn tay áp vào bụng, nơi mà bà ta thương tiếc tội nghiệp lũ con dâu đã khuất.

Tôi nhìn lên nét mặt của bà Ba Thê để trộm ngắm hình dáng sự tiếc thương “hết sức”: nó lại chỉ có vẻ giống như sự bình thản hiền lành dịu dàng vậy thôi.

Gia đình ông Ba Thê còn lại chừng đó: một cô cháu gái lãnh phần nuôi sống mọi người, một ông chồng rảnh rỗi dồn tất cả hoạt động vào việc tán gẫu về thời sự, một bà vợ rảnh rỗi thong thả phát huy tấm lòng từ ái; thêm một ông bạn già kể những chuyện huyền hoặc vô hại về cổ thời. Thỉnh thoảng tôi ghé qua viếng thăm dĩ vãng của mình và yên lòng thấy nó cứ như thế khệnh khạng tiến về tương lai.

Nhưng phải chi lúc nào tôi cũng được yên lòng như thế thì mối quan hệ giữa gia đình ông Ba Thê với tôi đã dứt lâu rồi. Đàng này một đôi lần về ngồi trong nhà ông Ba, tình cờ gặp cơn mưa nhẹ, giọt nước rơi không tiếng không tăm trên hàng rào lá bụt dày sum sê trước nhà, trời không gió, lâu lâu một chiếc lá mãng cầu úa vàng ướt sũng thình lình rụng xuống im lặng và nhanh như một cái xắc tuột khỏi tay một người đàn bà rơi xuống đất, vài con gà trống trên hè cử động e dè chậm rãi... những lần đó tự nhiên tôi thấy ngùi ngùi. Tôi không biết có phải khung cảnh ấy làm cho mình ý thức được cái chật hẹp, tàn tạ, ngẩn ngơ của một cuộc sống biếng nhác, lây lất? hay có phải tại khung cảnh ấy đánh thức bóng dáng cô bé ngày xưa từng múa hát trong thuở ấu thời của mình?

Cảm tưởng ngùi ngùi thực là mênh mông mơ hồ, khiến tôi tưởng có thể nghi ngờ, không rõ đó có phải là cảnh sống ở đây tự nó phát sinh ra cái ngùi ngùi như thế? có phải là quá khứ của mình tự nó ngùi ngùi? hay chính là mình đang ngùi ngùi? Tôi nghi ngờ không rõ chính mình đang rưng rưng buồn bã, hay cái buồn bã ấy đã ngấm khắp quá khứ của mình.

Tôi ước được biết rõ chỗ đau của mình để đặt một bàn tay lên xoa qua, như bà Ba Thê đã biết áp bàn tay đúng vào chỗ bụng của bà.

Nhưng khổ cho tôi, những hôm mưa mù trời mà nhẹ hột như thế, tôi không biết đặt bàn tay mình vào đâu.       

Ngày tháng trôi qua. Tôi không kịp để ý trong khi cuộc đời hiền lành khệnh khạng tiến về phía tương lai thì ông bác già của tôi và ông Ba Thê bắt tay chia biệt nhau từ chỗ ngã ba nào. Đến khi tôi ngoảnh lại thì mỗi người đã ra mỗi ngả.

Hồi mùa xuân năm Tuất tôi có việc ghé thăm, thấy bác tôi đã suy nhược lắm rồi. Người quên lần lần những chuyện cổ thời. Sau trận ốm kéo dài một tháng rưỡi, mắt người trở nên lờ đờ khờ dại, da thịt teo tóp, trông người nhỏ bé hẳn đi. Có điều đáng chú ý là người bắt đầu đổi tánh, không thích nói năng nữa. Người hoàn toàn lãnh đạm với thế cuộc. Ngay đến những chuyện xảy ra trong thành phố, có kẻ kể lại, người cũng dửng dưng ngồi nghe không thiết hỏi han. Người ta cho rằng các cụ già bỗng nhiên đổi tánh đi như thế là một điềm gỡ.

Tới đầu mùa thu năm ấy thì bác tôi hoàn toàn thành ra một kẻ dớ dẩn. Ngày ngày ăn xong, bác ngồi trầm ngâm gật gù yên lặng ở một góc nhà không mở miệng. Tối đến, khi đèn điện trước Hoàng Cung hí viện bật sáng và các ống loa oang oang phát ra vài câu của bài hát mở đầu là bác tôi đứng dậy, xách gậy ra đi. Có một vài tháng hí viện mở đầu đêm vui bằng bài “Gạo trắng trăng thanh”, vài tháng sau dĩa hát ấy cũ, lại thay bài “Chờ em”, kế đó đến bài “Tìm nhau”, rồi một bài hát Tàu v.v... Đối với ông bác già Đại Cuộc tất cả những bài hát đó đều có giá trị một tiếng kèn hiệu. Nhạc nổi lên: bác tôi tức thì đứng dậy, quơ lấy chiếc mũ dạ đen đã cũ chụp lên đầu, ra đường. Người thường mặc áo sơ-mi trắng và quần đen, trông hơi giống một người chệt già, đi lom khom, run rẩy.

Bác tôi đi thẳng đến Hoàng Cung hí viện, trèo lên bảy bực cấp, đến ngồi dựa bên một chân cột to tướng, một tay vẫn nắm cây gậy, một tay rờ rẫm sờ nắn vu vơ hai bên túi áo thăm chừng, kiểm soát, vài thứ vật dụng lặt vặt. Xong, người hếch mắt trông xuống đường.

Hoàng Cung hí viện là rạp chiếu bóng của người Tàu. Thành phố chưa có điện, nhưng ở đấy có riêng một máy phát điện 30 kw nên tha hồ dùng ánh sáng làm quảng cáo. Ngay trên đầu ông bác Đại Cuộc một hàng chữ Việt bằng ống nê-ông dàn ngang dài suốt mặt tiền của rạp. Lại một hàng chữ Tàu nằm dọc bằng ống nê-ông, xung quanh viền một mũi tên chỉ ngay vào rạp, hai chữ đỏ và hai chữ xanh thay nhau tắt sáng. Giăng ngang đường cái và ở hai bên hí viện có ba tấm băng vải quảng cáo cuốn phim đang chiếu, xung quanh mép băng vải treo bóng điện ngũ sắc.

Trước mặt hí viện, dựa theo mỗi trụ cột dựng mỗi tấm bảng vẽ những hình quảng cáo to tướng. Như thế có khi ông bác già của tôi ngồi bên cạnh hình vẽ một gã tướng cướp đeo băng đạn ngang hông, quàng ôm ngang cổ con ngựa, tay gã lăm lăm cây súng lục kê lên vai ông lão Đại Cuộc; có khi bên cạnh người là một hiệp sĩ trung cổ dạng hai chân ra khoa gươm ngang đầu; cũng có khi là một cô gái chỉ còn mảnh vải che vài chỗ kín, ngã ngửa ôm ghì một đầu người đàn ông v.v... Nhưng bất luận nhân vật bên cạnh mình là hạng người thế nào, bác tôi, mặc quần đen, áo trắng, đội mũ dạ đen, cầm chiếc gậy mây, vẫn một mực nghiêm chỉnh trong thế ngồi lim dim gật gù.

Xung quanh bác tôi: guốc, dép, giầy khua lộn xộn, vỏ hạt dưa, vỏ quít, giấy kẹo rơi bừa bãi như xác pháo. Trẻ con giỡn la lóe chóe. Những người đàn bà mặc đồ mỏng đi sát qua mặt bác tôi mà không hề bao giờ biết rằng như thế có một làn hương thơm phất vào mũi Đại Cuộc... Trên tất cả cái quang cảnh tưng bừng sặc sỡ ấy tiếng hát oang oang phát ra không ngớt từ hai chiếc loa đặt trên mái hí viện.

Bác tôi không lắng nghe nhạc, không ngắm quần áo chật, cánh tay trần, không hít mùi hương thơm, không nhìn xe hơi loang loáng lướt qua lại dưới ánh đèn. Người ngồi yên trên thềm hí viện, giữa sự tưng bừng ấy, người không hề chú ý đến cái gì, tất cả các giác quan đều bỏ ngõ cho sự xâm nhập tự do. Tiếng hát của Lâm Đại, tiếng guốc, tiếng dép, mùi nước hoa, ánh đèn chói chang, màu hạt dưa, giấy kẹo... tất cả gặp nhau trong ý thức của ông bác già Đại Cuộc như khách lạ tứ xứ thản nhiên gặp nhau tình cờ ở một ngã tư đông đảo, không ai phải cất mũ, ngả nón, không có một lời chào hỏi.

Và như thế ông bác già tìm được sự yên tĩnh.

Vì thực vậy, tối tối bác tôi lần mò đến đấy chính là để tìm sự yên tĩnh thảnh thơi! Người đến đấy như một ngày mùa đông con mèo đến nằm phơi mình dưới tia nắng ấm, duỗi hết gân cốt, để thân mình mềm oặt như tấm giẻ rách, im lặng hưởng một sự thư thái biếng nhác. Bác tôi tự phơi mình dưới ánh sáng giữa tiếng động và quang cảnh loạn xạ rộn ràng, để cho những cái đó làm bốc hơi tan biến khỏi đầu óc mình mọi suy tưởng lẩn quẩn, mọi ký ức vụn vặt, để cho đầu óc rỗng tuếch, bác chỉ còn là cái xác không hồn lơ mơ hưởng thú xuất thần.

Những lúc ấy bác tôi, ông già bảy mươi sáu tuổi, tựa hồ như đứa trẻ sơ sinh: người không còn có quá khứ nữa.
Ngồi chơi một lát, ông bác già buồn buồn nghẻo đầu dựa vào cây cột, há mồm ra ngủ như đứa trẻ, mấy ngón tay thỉnh thoảng bất giác cựa quậy sờ nắn vu vơ chỗ túi áo, do một thói quen cẩn thận lẩm cẩm. Tiếng ồn ào không làm trở ngại giấc ngủ ấy, chỉ khi nào một đứa bé chạy giỡn lao đầu vào bác tôi, người mới giật mình thức giấc.

(Còn tiếp một kỳ)

Read more »

Trần Mạnh Hảo - Bỏ tù một đóa hoa



Trần Mạnh Hảo

Nguyễn Phương Uyên đứng trước tòa
Em xinh hơn mọi loài hoa trên đời
Em không phải đóa mặt trời
Mà sao bóng tối rụng rời vây quanh

Trước vành móng ngựa gian manh
Phương Uyên chợt mọc lên thành đóa sen
Trái tim yêu nước thắp đèn
Phương Uyên em giữa bùn đen sáng lòa

Em là nụ, em là hoa
Bởi yêu nước phải ra tòa em ơi
Đưa tay chúng tính che trời
Làm sao che nổi nụ cười trinh nguyên

Tự do tuyên án bạo quyền
Cám ơn mẹ sinh Phương Uyên tuyệt vời
Bỏ tù hoa, bỏ tù người
Bỏ tù đất nước giống nòi quê hương

À ơi nước Việt đau thương
Ngủ đi những đóa hoa đương ngồi tù….
(Sài Gòn ngày 17-6-2013)

Read more »

Saturday, May 18

Võ Phiến - Giã Từ




Võ Phiến

(Tiếp theo)

(6)

Trời nóng hầm, không gió. Khí oi bức và sự mệt mỏi làm cho bước chân thêm nặng nề. Đi chừng quá một giờ đồng hồ thì hết những câu chuyện ồn ào, tiếng chân giậm trên lá khô nghe rõ rộp rộp. Thứ lá dầu to chồng lên nhiều lớp gây một cảm giác êm êm buồn buồn dưới chân.

Cứ thế chúng tôi đi từ giờ này qua giờ khác, thỉnh thoảng né tránh cho một chiếc võng tải thương do dân công khiêng đi vượt tới trước. Mắt người lính đang bước đi lướt trên mặt người lính nằm trong võng không kịp biểu lộ gì. Có người bạn nằm nhắm mắt, có người còn đủ sức mở mắt nhìn trả lại chúng tôi, cũng thành ra lạnh lùng thản nhiên một cách buồn thảm.


Cái gì tăng thêm sự bực bội của người đi rừng buổi trưa nhiều nhất có lẽ là những tiếng kêu làm cho tê mê trí óc. Đuổi theo chúng tôi lúc nào cũng có tiếng ve ran lên, dồn tới từng đợt, từng đợt gấp rồi xuôi một hơi dài, như người đạp chiếc xe thật nhanh bỗng ngừng đạp thình lình, để cho xe chạy rè rè theo trớn. Những con đa đa kêu “cúc cúc cúc”. Thỉnh thoảng một con cuốc vùng kêu ồn lên như hốt hoảng.

Trong khung cảnh hừng hực ấy, trong sự tê mê mệt mỏi ấy, tôi vừa đi vừa nghĩ loáng thoáng về ông Ba Thê Đồng Thời, về tình yêu và nét mặt rạng rỡ của Loan, về cái thây nằm sấp của Toàn. Cái tang bất ngờ đó làm cho tôi tự thấy càng thêm gần gũi gia đình ông Ba Thê. Ve dầu Nhị thiên đường của Toàn hãy còn nằm trong túi tôi. Ý nghĩ của tôi quanh quẩn một lúc lâu xung quanh cái chết của người con trai mới vừa nằm vắt chân lên hông tôi đêm qua. Anh ta là một đảng viên. Lý do xui khiến anh ta ra mặt trận không phải là một tình cờ lếu láo như trường hợp của tôi. Tôi hiểu tất cả lòng nhiệt thành của người thanh niên chân thật và ít nói ấy. Bởi anh ta hiền lành nên tiếng cười ha hả ồn ào của người bạn hữu cao nhòng có râu mép, đeo kiếng trắng trong bữa tiệc đông đảo ngày xưa làm anh ta hoang mang hoảng hốt quá lâu, cho nên nỗi khổ sở lúng túng của ông giáo sư già xúc động anh ta quá sâu xa, cho nên sự lẩn thẩn của ông tham Hà làm anh ta xấu hổ không chịu nổi. Cũng bởi anh ta hiền lành ít lời nên mới im lìm xé nát những lá thư của ông Ba Thê. Sự hư hỏng sau này của hai đứa em, anh ta đau khổ tự quy lỗi về mình tất cả, anh không có can đảm tiếp tục xin cái sống cho gia đình nên đứa em gái mới phải lui tới tiếp xúc với những người đàn ông thừa cơ hội lợi dụng nàng. Tại anh cho nên đứa em trai lại phải đi xin xỏ từng cửa và mất hết ý niệm về liêm sỉ, đến nỗi ngày nay thành một đứa vô dụng. Trong nhiều năm anh ta âm thầm mang một mặc cảm tội lỗi. Rồi thời cuộc thình lình cung cấp cho anh ta những lý lẽ để biến hết thảy những người “se a-mi” đáng giận của ông Ba Thê ngày xưa thành ra những kẻ tư sản, thành những kẻ thù. Anh ta hớn hở đầu độc cuộc đời mình. Đảng xóa cho anh ta về trách nhiệm nặng nề về tính đàng điếm của Phong, về sự hư nết của Loan... Anh thở ra một hơi dài khoan khoái. “Đáng hận chỉ có là cái tính bủn xỉn của ông giáo sư già nọ, sự lẩn thẩn của những ông tham Hà v.v... Tất cả nguyên do là ở những cái đó, là những kẻ tư sản xa hoa, ích kỷ và sa đọa”.

Toàn vào đảng và chiến đấu với cái nhiệt thành của một kẻ chuộc tội.

Đêm hôm qua, tôi còn nằm bên anh ta, sát bên cạnh, như đụng chạm những nhớ thương ríu rít của anh ta. Trưa hôm nay, tôi nặng nề giậm từng bước trên lá dầu chất dày từng lớp, còn thây anh thì nằm lấp trong một cái hầm ở lưng đèo Mang Giang.

Cơ hội khiến anh bắt gặp người vợ yêu quí của mình do tấm danh thiếp của ông Ba Thê đem đến. Những thù hận làm động cơ chiến đấu của anh cũng là do mấy tấm danh thiếp của ông ta đem đến. Những tấm danh thiếp tai quái!

Rừng dầu thưa dần. Chúng tôi đi vào những vạt tranh lớn bị đốt cháy. Chân chúng tôi giậm lên tro bụi, đạp gãy rốp rốp những chân tranh khô dòn. Chỗ nào không có chân tranh thì mủ trùn đùn lên lởm chởm và cứng ngắt. Mùi tro xông lên mũi, lẫn với mùi nắng khét từ đất khô bốc lên. Tiếng ve ran ran vẫn đuổi theo, nghe nhỏ dần. Trên đầu chúng tôi có đến vài mươi con diều trôi dật dờ giữa trời cao chót vót.

Xế chiều, tới một làng thượng du, chúng tôi dừng lại nghỉ tạm. Tôi vất ba-lô dưới bóng cây, bên cạnh một ngôi nhà sàn, gối đầu lên, ngủ thiếp đi một giấc. Lúc giật mình thức dậy thấy một thiếu phụ thượng du ngồi ngay trước cửa đang dùng con dao dài cắt từng lát xoài núi, thứ xoài nhỏ chỉ bằng ngón chân cái và chua vô cùng. Vừa ăn chị vừa phân phát cho hai đứa con. Người mẹ cắt xoài đều đặn, chậm rãi, không thèm muốn; hai đứa con không vồ vập tranh giành; cả ba ăn xoài chua không có một chút nhăn mặt. Từ cử chỉ đến nét mặt đều một vẻ bình thản yên tĩnh lạ lùng, ngộ nghĩnh. Người mẹ chợt bắt gặp cái nhìn tò mò chăm chú của tôi, ngẩng lên mở một nụ cười biếng nhác, lạt lẽo.

Tôi tránh mắt, ngước nhìn lên trời: lá cây sống mả rớt lăng tăng trong gió. Mấy con bướm nhỏ bay lấn quấn xung quanh một cây găng trâu gai lởm chởm hồi lâu không tìm ra chỗ đậu. Đàn diều hâu đã hạ xuống thấp, xòe những cánh xơ, bay tán loạn...

Sau giấc ngủ xế chiều, tất cả sự xúc động của chiến trận, của cái chết người bạn bên mình tự nhiên chợt ùa về làm tôi dao động xôn xao. Từ cái lá bay với con diều hâu xòe cánh cho đến nét mặt thản nhiên vô sự của người đàn bà thượng du đều khiến tôi mủi lòng nhớ làng, nhớ nhà, nhớ Loan.

Tôi nhớ Loan vô số. Chao ôi! Đã bảo quả tình tôi không có máu anh hùng. Nếu chuyến này về được, tôi sẽ đề nghị Loan hãy nói với tôi những chuyện khác ngoài chuyện đạo đức, tác phong, dũng cảm v.v... 

Nhưng mà sau trận đó tôi không về được. Cuộc chiến đấu đang chuyển tới giai đoạn rầm rộ hơn trước. Từ lối đánh núp đánh lén, chúng tôi bắt đầu cố gắng đánh những trận lớn, những trận tiêu diệt đồn. Trong hàng ngũ, từ trên xuống dưới người ta ra sức học tập, thúc đẩy nhau, rào rào thổi vào tai nhau ngày đêm những chuyện đạo đức, tác phong, dũng cảm. Thét rồi tôi cũng nói dũng cảm hăng như bất cứ ai. Tôi lẫn lộn trong hàng ngũ, nay đây mai đó, có lúc kéo xuống làng đào hầm đắp đồn giả để tập trận, có lúc lại kéo lên Cao Nguyên, theo anh em lao mình vào đồn địch. Những hôm bị sốt rét vì muỗi rừng tôi cuốn mình trong tấm chăn nằm queo lại một đống như cái bao. Hai lần bị thương ở chân, tôi được những người dân công bỏ lên võng, túm lại, khiêng đi tòn teng. Tôi cố hình dung ra trong trí hình dáng một người nữ cứu thương. Trí tôi bất lực không thể hình dung nổi, chỉ có bóng dáng một nữ cứu thương không chịu thành hình, là cô con gái ông Ba Thê dẩu mỏ nói:
—... tưởng em không làm gì được hả? Em sắp sửa đi đây.

Dù là đang nằm như cái bao một mình trên nhà sàn thượng du, dù đang bị khiêng tòn teng giữa rừng, dưới lưng và hai bên hông quẹt lạt sạt những ngọn lá, dù ở trong hoàn cảnh nào, nhớ tới cái khuôn mặt đầy vẻ khoác lác kiêu kỳ ấy, tôi vẫn cứ thấy nó đẹp, tôi vẫn nhớ nó. Khổ quá, không có ai cho tôi thảo luận thỏa thuê về sự hèn nhát của “chiến sĩ”.

Tới khi ngừng tiếng súng, tôi trở về làng, gặp ông Ba Thê: ông Ba Thê đã hết nói chuyện “đồng thời”. Tôi thăm chào bác tôi: cán bộ đảng theo nhau rút êm không lai vãng nữa, bác tôi cũng hết hiểu nổi đại cuộc rồi sẽ biến chuyển tới đâu. Tôi hỏi cô Loan yêu dấu: nàng đã có một con và bồng con theo chồng tập kết ra Bắc. Tôi chưa kịp liệu đến cái việc để cho một kẻ khác thay thế tôi làm chồng Loan, cho nên tôi buồn vô số.

Chúng tôi dọn về Qui Nhơn. Nhà cũ tôi ở, còn lại nguyện vẹn một cái nền. Cây sứ lớn nhất ở góc vườn đã chết rụi, còn một khúc gốc cao chừng một tấc tây. Cây trứng cá trước nhà lớn cao hơn nhiều lắm, những dây thép gai quấn chằng chịt xung quanh thân cây ăn lún sâu vào thịt. Tôi nhìn từng vết thương trên cây cối, từng dấu tích tàn phá sửa đổi trong vườn cố đoán ra những sự hoạt động đã xảy ra trong những năm tôi vắng mặt, lòng bùi ngùi. Tôi trở lại nhà cũ của Loan. Nhà Loan cũng còn trơ một cái nền, trên đó ông Ba Thê dựng lại một lều tranh. Vườn mãng cầu còn lại đúng ba cây, trên đó dính năm mười quả nhỏ, khô queo, đen như trái táo trong tiệm thuốc bắc.

Tôi đau khổ nhìn lên hai chiếc bồ đen trên núi Chóp Vung. Hàng ngày hai con mắt thao láo ấy đã rình mò theo dõi tận ngoài bể khơi, điều khiển mọi chi tiết trong cuộc sinh hoạt của miền quê chúng tôi, nó đã chứng kiến được những gì về sự bội bạc của Loan? Nó chối phắt. Nó không biết gì ráo. Hai con mắt đen thui, ngu ngốc, giữa trời xanh rộng rãi mênh mông, chúng bày ra cái lơ láo của những vật hết công dụng. Chúng chối hết về mọi hồi hộp, vui buồn, cao thượng và hèn hạ, của một thời đã qua.

Phải chi tôi cũng chối được hết như nó! Đàng này, thỉnh thoảng, tôi vẫn còn nhớ tới khuôn mặt rạng rỡ của nàng, nhớ xót xa. Đối với tôi có những khổ người, những khuôn mặt chỉ cần nhìn đến cũng đủ đem lại một miền vui tin ở cuộc sống, một cảm giác yên ổn hạnh phúc. Loan giống cha nàng ở nước da hơi ngăm ngăm đen, nhưng có cái ngực rộng rãi của mẹ nàng. Vẻ mặt của Loan cũng vừa có cái linh hoạt vui tươi của cha, vừa có cái hiền lành của mẹ, vẻ mặt giấu một khả năng hấp dẫn đặc biệt. Có lần tôi thực thà thú với nàng rằng không kể tới kỷ niệm hồi phong kiến — “xưa rồi” — thì tôi vẫn cứ mê khuôn mặt nàng. “Đang có gì bận rộn buồn bực, được nhìn tới mặt em, anh thấy dịu xuống và mát mẻ trong tâm trí ngay”. Loan chê tôi: “Anh chỉ chú ý tới hình thức ngoại diện. Quan trọng là ở sự hòa hợp của hai tâm hồn”. Đúng vậy. Nếu tôi chỉ biết chú ý tới những cái mà nàng cho là đáng chú ý: tâm hồn, nhiệm vụ, đạo đức, tác phong v.v... thì hay cho tôi biết mấy. Đạo đức của nàng đã đi đời mấy thuở rồi, nếu chỉ quí có nó thì tôi đã hết buồn khổ. Đàng này tôi cứ lẩn thẩn về những chuyện mưa chiều ướt át trên mấy cái mả vôi đen như lưng trâu, đến ý nghĩa điêu tàn kín đáo trong dáng bộ lãnh đạm khó tả của một con gà mái, đến một giọng hát, một vẻ mặt, đến những cái rất ít dính líu tới tâm hồn.

Loan có chồng có con và bồng bế ra đi không cần chờ gặp mặt tôi một lần chót. Người ta ít khi tưởng tượng nổi rằng mình lại ít quan trọng tới bực đó. Những lần ở mặt trận tôi hồi hộp vì thấy mạng mình quá quan trọng, lần này tôi gần bủn rủn chân tay vì bỗng thấy mình chẳng có một nghĩa lý gì cả đối với một người con gái. Từ đó tôi ngượng mồm ngượng miệng không dám nhắc đến tên nàng, bất cứ trước mặt ai.

Toàn tử trận, Phong trộm cướp bị tù; sau, được phóng thích thì lại không chịu về sống với cha mẹ mà cùng với người vợ không cưới hỏi mướn nhà ở riêng. Tôi chưa kịp lo lắng cho sự sinh sống của vợ chồng ông Ba Thê thì đã giật mình trước sự xoay trở khôn ngoan của ông ta. Ông ta tìm không biết ở đâu ra một người gọi là cháu họ, một cô gái mồ côi chê chồng, về ở với ông ta. Gia đình hồi cư về Qui Nhơn, bà Ba Thê chỉ vẽ cho cô ta khi thì nấu chè, khi thì nấu cháo gà, bún bò, khi thì gầy rượu nếp, gánh đi bán dạo. Vợ chồng Ba Thê yên tâm sống bằng tiền lời do cô cháu gái kiếm ra, để bình tĩnh suy ngẫm, tìm kiếm một nghề cho mình.

Tôi không được biết hồi cái tin Toàn bỏ mình ở đèo Mang Giang bay về tới gia đình thì vợ chồng ông Ba Thê và cô vợ xinh xắn của Toàn đón tiếp nó bằng sự xúc động ra sao. Khi tôi về thì đã có quá nhiều ngày tháng trôi qua trên một cái tin cỏn con đó. Nhiều cán bộ đã đến giải thích cho bà Ba Thê và chị Toàn hiểu rõ họ không nên buồn, chỉ nên căm giận trong vinh quang. “Đồng thời” ông Ba Thê cũng giải thích như thế. Cho nên chừng hơn một năm sau thì chị Toàn đã thôi buồn. Chị bắt đầu mến một hàng binh, người nước Áo, phục dịch ở một cơ quan đóng gần nhà chị. Người hàng binh trẻ tuổi ấy trước kia là một sinh viên vừa ở trường ra liền bị động viên đưa đi đánh giặc bên cạnh quân đội Đức quốc. Khi Đồng minh kéo tới giải phóng nước Áo, anh ta bị bắt làm tù binh; rồi chẳng biết trải qua những tình cờ như thế nào anh ta bị đưa sang chiến trường Đông Dương. Anh ta vô cùng chán nản, không muốn hết sự tình cờ này đến sự tình cờ khác cứ thay nhau dọa nạt tính mệnh mình mãi, cơ hội đến là anh giơ tay đầu hàng liền để tìm sự yên thân. Ngày ngày người ta sai anh làm những công việc vặt vãnh trong cơ quan ở hậu tuyến, còn thì giờ dư anh phải tham gia sản xuất: anh ta cuốc đất nhanh, chặt cây mạnh, việc gì anh ta cũng khá, chỉ trừ có việc gánh gồng. Anh ta không gánh được, lắc đầu ra dấu để người ta hiểu rằng ở bên xứ anh không có dùng phương pháp chuyển vận như thế. Tuy vậy lần hồi không làm thế nào khác được, anh ta cũng phải gánh, một cách khổ sở: anh ta cổi áo ra lót trên vai và lấy khăn quấn rất dày xung quanh cây đòn gánh; đã thế mà mỗi lần đặt gánh lên vai anh vẫn nhăn nhó và khom lưng xuống một cách vụng về ngộ nghĩnh. Một hôm, anh vừa gánh phân ra đến đầu đường bỗng nghe có tiếng cười rúc rích. Anh ta đặt gánh xuống, ngẩng đầu lên; giọng đàn bà bùng phá lên cười xòa. Anh ta trông thấy bên kia rào một người con gái đứng nhìn vào hai đầu gánh của anh ta, che miệng cười rũ rượi: giữa vóc người cao lớn của anh ta và lượng phân chút xíu trong gánh có một mâu thuẫn hài hước.

Ban đầu người hàng binh trẻ tuổi ngượng ngùng xấu hổ. Nhưng rồi anh ta hiểu rất nhanh rằng trong sự nghịch ngợm của người đàn bà có một vẻ hồn nhiên không ác ý, anh ta vui vẻ cười theo.

Đêm hôm ấy, ngồi nghĩ lại câu chuyện ngộ nghĩnh trong ngày, anh ta thấy thích, mỉm cười một mình; và mượn cây vĩ cầm của một nhân viên trong cơ quan, anh ta chơi mấy bản nhạc cũ bên xứ anh, nhớ tới một vài kỷ niệm hồi còn đi học. Ở bên kia rào, chị Toàn lắng tai nghe điệu nhạc lạ.

Lại một lần nữa, thêm một người đàn ông mê chị ta, bắt đầu bằng sự oán giận... Chẳng qua là ái tình có những sáng kiến trùng điệp... Đã không nỡ bắt tội ái tình thì thôi, chứ bắt lỗi chị Toàn làm sao được.

Tôi về Qui Nhơn được ít lâu, có được chị Toàn giới thiệu với người chồng mới. Họ đã sống công khai với nhau vui thú, chị có cái hồn nhiên cởi mở thích hợp với lối bạo dạn tình cảm của người Tây phương.

Một đêm tháng tám tôi đến chơi nhà vợ chồng chị, anh Áo (anh chọn một tên Việt Nam giản dị: Nguyễn Văn Áo. Nguyễn Văn là cái họ thường gặp nhất ở Việt Nam, và Áo là tên nước anh), anh vui mừng báo cho tôi biết cái tin anh sắp sửa được “trao đổi”. Trao đổi xong, anh tìm cách về nước ngay để thăm người chị mắc bệnh lao xương và một bà cô già đã nuôi anh từ nhỏ đến lớn, vì anh ta mồ côi. Anh nói tiếng Việt rất chậm, nhưng mà rõ (trong việc gì, từ việc “học tập lao động” cho đến học nói một ngoại ngữ, anh đều chăm chỉ, cần mẫn). Tôi nhìn về phía chị Toàn, ngần ngại. Anh ta hiểu ý:
— Nếu không cùng đi một lần được, thì về tới bên xứ tôi tìm cách rước nhà tôi về ngay. Tôi tin là chúng tôi bên đó sẽ tìm ra đủ tiền bạc...

Anh ta ngó vợ, nở một nụ cười đầy tin tưởng thành thực. Chị Toàn cũng nhoẻn cười. Cái cười của người đàn bà ngoài sự biết ơn sung sướng, còn tỏ một vẻ gì nhạo báng, coi cái việc mình đi qua tận bên nước Áo là một điều ngộ nghĩnh, khó tưởng tượng.

Hôm anh ấy anh Áo vui vẻ nói với tôi những cảm tưởng về cuộc kháng chiến của Việt Nam. Trước đó anh nhất định lảng tránh những câu nói có tính cách chính trị. Anh ta khen sự dũng cảm của người lính Việt Nam mà anh đã mục kích trên các mặt trận. Rồi anh khoe những kỷ niệm chiến đấu hồi anh còn ở trong quân đội Áo quốc. Chị Toàn nhắc cho anh mỗi khi anh ta tìm chữ một khó khăn. Đêm khuya, anh còn giữ tôi lại để đàn cho nghe mấy bản nhạc anh thích. Sau mỗi bản đàn anh bàn về nhạc, giải thích về đời sống tình cảm của người bên xứ anh, về phong cảnh bên xứ anh... Trong cái tưng bừng ấy anh ta quên để ý đến sự thay đổi trên vẻ mặt vợ mình. Khi người chồng bị lôi cuốn quá xa về bên quê hương xa lạ, thì người vợ như bị lạc rơi lại giữa một hoang mang.

Tôi cáo từ ra về. Anh Áo đưa tôi ra đến ngoài đầu sân rồi trở vào, nhưng chị Toàn tiếp tục theo tôi ra tận ngoài cổng. Người con dâu ông Ba Thê bước lặng lẽ bên tôi tự nhiên có vẻ hiền thục trong sự ưu tư. Tôi cảm thấy nặng nề vai trò của mình, vì đã trót chứng kiến cái chết của Toàn bên sườn đèo; tôi tìm cách nói bâng quơ một câu, gạt tránh cảm giác nặng nề:
— Anh ấy chơi vĩ cầm hay đấy chứ. Lam lũ vất vả bao nhiêu năm mà cầm đến đàn vẫn...

Người đàn bà lắng nghe tôi nói, không trả lời. Một lúc sau, đi đến cổng, chị gọi tôi:
— Anh.

Tôi dừng lại.

— Anh có cảm tưởng gì về cuộc... về chúng tôi?

Tôi chưa kịp trả lời. Mắt chị Toàn chăm chú nhìn thẳng vào mắt tôi, nóng nảy, giục giã. Rồi người đàn bà vụt có sắc giận. Chị hỏi nhanh:
— Anh cho là tôi hết nghĩ đến anh Toàn rồi chắc!

Những tiếng sau cùng run run. Hết câu nói, chị bật khóc.

Tôi vịn một tay lên rào, chờ trôi qua một chút thời gian, cho dịu sự ấm ức của người đàn bà, rồi nói:
— Chúng ta sống một thời buổi khác thường. Hoàn cảnh tạo ra nhiều cơ hội tình cờ oái oăm hơn là ở một thời phẳng lặng. Gặp cảnh nào, phải ứng xử theo cảnh nấy thôi, chị.

Chị Toàn không đáp. Có lẽ chị cũng không cần nghe nói và hiểu. Chị cần khóc bên cạnh một người có thể làm chứng cho tâm trạng của chị. Đã có lần tôi được Toàn kể cho nghe chuyện chị khóc vì một cái nách áo bị chuột cắn: trước kia cái khóc của chị dễ dàng hơn biết bao, như của một đứa trẻ con. Người con gái giản dị hồn nhiên ấy bây giờ đang nén tiếng khóc sau lưng chồng!

Tiếng sóng vỗ buồn bã vào bờ bể trước nhà càng lâu càng làm cho tôi thấy bứt rứt. Tôi ngoảnh mặt nhìn ra ngoài bể. Trăng bây giờ lên đã quá cao và bị mây che khuất, mặt bể không còn loang loáng ánh sáng nữa mà tất cả mặt nước rộng bao la xuống một màu xám lạt, chỉ có những con sóng cuộn lên gần bờ mới ánh lên một gợn vàng. Gió bể phất nhẹ vào, mát lạnh,

Một trái trứng cá chín mùi rụng xuống bàn tay tôi, bắn ra tí nước. Tôi nắm lấy trái trứng cá mềm mềm, vân vê một lúc trên đầu ngón tay mà không tìm được ý gì để bày tỏ với chị Toàn lúc này. Cuối cùng tôi nói:
— Trong sự hỗn loạn mọi người bị xô đẩy tư bề, gặp nhau, tiếp xúc nhau, va chạm nhau bất thường. Tình thế làm phát sinh ra lắm tình cảm bất thường. Đem những thành kiến thành hình trong các thời yên lặng mà suy xét chúng ta sao khỏi...

Tôi chán nản không tiếp tục nữa, vì thấy mình đang lặp lại một ý kiến đã nói rồi.

Ở trong nhà vừa có tiếng anh Áo đàn bâng quơ vài câu nhạc rời, không thành bài. Tôi giật mình, giục chị Toàn.:
— Chị nên trở vào nhà... Hôm nào anh ấy được “trao đổi” chị nhớ cho tôi hay.

Người đàn bà kín đáo liếc nhìn ánh đèn trong nhà rồi cúi đầu xuống, giấu một tình cảm khó đoán. Tôi quay về.
Thành phố bị phá hoại, gần hết nhà cao đều bị hạ xuống, tự nhiên như rộng thêm ra, nhất là dưới ánh sáng một đêm trăng. Con đường tôi đang đi như cũng dàn rộng thêm. Bước đi giữa sự hoang tàn vắng vẻ, một phần mình thấy bồi hồi, một phần lại thấy chơi vơi, một cảm giác mới lạ gần như là cái thích thú khó hiểu được tung hoành tự do hơn ngày thường.

(Còn tiếp)

Read more »

Ban Chủ Trương:
Nguyễn Minh Cần, Song Chi, Đinh Xuân Quân, Phạm Phú Minh,
Vũ Quí Hạo Nhiên, Đỗ Quý Toàn, Trần Mộng Tú.
Bài vở cộng tác, xin gởi về địa chỉ email:
info.theky21@gmail.com
hoặc liên lạc điện thoại: 714-839-8746