NGÔ THẾ VINH - BỐN MƯƠI NĂM VÕ PHIẾN NHÀ VĂN LƯU ĐẦY

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 4 năm 2015


Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy.
 
Võ Phiến

Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình...

Rồi qua người bạn tấm cám Nghiêu Đề, qua toà soạn Bách Khoa, tôi quen ông từ những năm trước 1960 cho tới khi ra hải ngoại về sau này.

Truyện của HÀ KỲ LAM - VÙNG ĐÁ NGẦM


LỜI GIỚI THIỆU. Ngày 30 tháng 4 lại sắp đến. Trong khi cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới đang tưởng niệm biến cố lịch sử đau thương ấy bốn mươi năm xưa của Miền Nam Việt Nam (VNCH), ký ức về hiện tượng thuyền nhân trên Biển Đông cũng được khơi dậy, vì đó là một hệ quả không thể tách rời của biến cố kia.
Từ sau 30-4-1975 - sau ngày VNCH bại trận trong cuộc chiến Việt Nam 1954-1975 - hàng trăm nhìn người Việt đã liều lĩnh trốn khỏi nước bằng đường biển trên những chiếc xuồng máy nhỏ bé, mong manh. Những hành trình nầy – mà ngôn ngữ thời ấy gọi là “vượt biên” – là những cuộc đào tẩu gian nan, đầy hiểm nguy, bất trắc. Một số người may mắn tới được bến bờ, hay được cứu trên biển; một số không nhỏ đã bị tử vong trên biển vì bệnh tật, đói khát, bão tố… Theo báo cáo của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, khoảng 840 nghìn người Việt vượt biển tìm tự do, đã tới được bến bờ, và khoảng 250 nghìn người đã bỏ mạng trên đường đi.
Truyện “Vùng Đá Ngầm” của Hà Kỳ Lam không phải là sản phẩm của tưởng tượng, hay hư cấu văn chương. Tác giả đã ghi lại mọi chi tiết trung thực từ đầu đến cuối của một chuyến vượt biên qua lời kể của một nhân chứng sống! Ông đã trình bày thiên ký sự nầy dưới dạng một truyện ngắn để gây hứng thú cho người đọc. Chỉ có danh tính nhân vật trong cuộc được biến đổi để tôn trọng sự riêng tư của họ. Nhân dịp “Tháng Tư Đen” lại về, chúng tôi xin đăng lại “Vùng Đá Ngầm” của Hà Kỳ Lam, một câu chuyện thật về thuyền nhân, để cống hiến quí độc giả. DĐTK. 

Ngự Thuyết - 30/4/1975


1975 – 2015. 40 năm đã trôi qua! Đối với đời người, đó là một thời gian dài. Biết bao nhiêu chuyện đã xẩy ra, thử nhìn lại quãng thời gian đằng đẵng ấy, nhớ quên chồng chất lên nhau. Nhiều khi chuyện đáng nhớ lại quên, và ngược lại.

Nhưng thời thơ ấu thì nhớ lắm. Trí nhớ như những sợi dây mong manh bắt từ hiện tại nối vào quá khứ. Những sợi dây có khi bị đứt đoạn, có khi thẳng băng, có khi cuốn tròn, có khi thắt nút, có khi mòn mỏi phôi pha. Tôi thử tháo gỡ, phanh phui những vùng tối trong ký ức, cũng gặp được nhiều điều tưởng như đã rời bỏ tôi vĩnh viễn. Chẳng hạn vài ba câu hát thật xưa: “Đời ta bao tươi vui như hoa hồng thắm ...”, “Nắng trên khóm cây, xuân sáng ngời ...”, “Đoàn niên thiếu ta, hát đùa vui suốt ngày ...” Cả mấy câu hát tiếng Bà Ngư (tiếng một bộ tộc người Thượng vùng Đà Lạt) cũng tình cờ hiện lên dù tôi không hiểu nghĩa, “Mạch non dù ni – Báng phí du xề non ...”,và cả hình ảnh thằng bé con ở trần, đóng khố, mặt bôi lọ nghẹ, hai tay chống nạnh, mông lắc, vừa co ro bước vì trời lạnh quá vừa hát mấy câu trên theo tiếng vỗ tay của thầy dạy Nhạc. Thời thơ ấu đẹp. Oái ăm thay, đấy cũng là thời gian ách đô hộ tàn bạo của Pháp đè nặng. Về sau, trừ mấy năm thanh bình ngắn ngủi sau khi đất nước chia đôi và khi Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chưa ra đời, với tôi, với thế hệ chúng tôi, toàn là những ngày máu lửa, chém giết, hận thù.

Trangđài Glasssey-Trầnguyễn - CHÀO ĐỜI KHÔNG CHA


Tôi mới hai tuần tuổi.
 
Mẹ đem tôi theo trên chuyến xe buýt liên tỉnh để đi từ quê tôi tới chỗ dạy mới. Đi cả nửa ngày mới tới. Cái lệnh đổi trường này là cách chính quyền mới trừng phạt người thân của những quân nhân miền Nam.
Mẹ gói tôi trong miếng vải tốt nhất kiếm được ở nhà. Trước cuộc đổi đời, Mẹ thường mua vải cô-tông tốt nhất và mướn người may áo quần cho anh chị tôi. Mẹ móc vớ, nón, và áo lạnh trắng thật đẹp cho mỗi đứa mặc lúc mới sanh. Mẹ khéo lắm, và lúc nào cũng dồn sự sáng tạo của mình cho con cái. 
Miếng vải cô-tông mềm duy nhất mà Mẹ kiếm được cũng không lớn đủ để gói tôi. Mẹ gói thêm vài miếng vải thô mà Dì Thơ mót được trong rương ngày hôm qua. Những vật quý giá trong rương đã bị tịch thu năm tháng trước, hồi tháng Năm. Cái rương phản ảnh một cách xác đáng cảnh nhà chúng tôi: dở khóc dở cười, trơ trụi, buồn thiu, và bị lột sạch. 

Nguyễn thị Hải Hà - Bạn bây giờ đã quên


Tôi tìm cái giếngrồi nói vọng vào
chuyện không thể nóiám ảnh suốt đờiân tình đứt đoạntrói buộc khôn nguôi[1]  

Bây giờ, tôi không còn nhớ mặt bà nữa. Nếu có đi trên phố chạm mặt nhau tôi không chắc là tôi có thể nhận ra bà. Tôi gặp bà đúng hai lần. Bà có dáng cao, mảnh mai, dễ nhìn, dù không trang điểm. Không còn nhớ nét mặt bà nhưng tôi vẫn nhớ trường hợp chúng tôi gặp nhau. Và chính cái trường hợp ấy đã khiến tôi thầm xem bà như bạn. 

Ngô Nhân Dụng - Ngày mất tự do cũng là Ngày Tìm Tự Do

Thứ Bảy, ngày 25 tháng 4 năm 2015


Quốc Hội Canada đã thông qua dự luật (Bill S-219) quy định ngày 30 Tháng Tư mỗi năm là ngày “Tìm Tự Do” (Journey to Freedom), và đạo luật đã được ban hành một tuần trước ngày kỷ niệm 40 năm dân miền Nam bị Cộng Sản cướp mất tự do.

Năm ngoái, Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đề nghị dự luật này với tên là “Ngày Tháng Tư Ðen” (Black April Day). Khi thảo luận tại Thượng Viện, nhiều nghị sĩ đề nghị đổi tên để mang một ý nghĩa tích cực hơn và dễ được người Canada thuộc các sắc dân khác ủng hộ; do đó đề nghị đổi tên thành luật Hành Trình Tìm Tự Do. Nhiều người Việt không thỏa mãn với tên gọi không phản ảnh nỗi đau buồn và uất hận vì mất tự do. Nhưng đổi tên là một thỏa hiệp khôn ngoan để đạt mục đích muốn cả nước Canada ghi nhận phong trào vượt biển tị nạn của người Việt sau ngày 30 Tháng Tư 1975 là một biểu tượng cho khát vọng tự do của con người. Chưa một sắc dân nào ở Canada được Quốc Hội đối xử đặc biệt như vậy.

Thụy Khuê: Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long - Chương 8


Hịch của Quang Trung 
Sau khi đại phá quân Thanh năm 1789, uy thế Quang Trung lừng lẫy, nhưng sự kiện anh em bất hoà từ 1787 vẫn còn hằn vết. Giang sơn chia hai, Nguyễn Huệ giữ từ Phú Xuân ra Bắc, Nguyễn Nhạc từ Quảng Nam tới Quy Nhơn. Đất Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, trên nguyên tắc của Nguyễn Nhạc, nhưng là vùng tranh chấp thường xuyên. Nguyễn Ánh giữ miền Nam. Họ xưng là "ba nước".
Về phía Nguyễn Ánh, sự bình định miền Nam đã xong, cơ sở hành chính và quân đội đã vững. Kế hoạch chiến tranh cũng được vạch rõ: sẽ không đánh liên tục mà đánh theo gió mùa, thuận gió thì đem tầu thuyền ra tấn công chiếm đất, để quân, tướng, ở lại giữ; hết gió, lại rút về Gia Định, cho quân làm ruộng, đợi năm sau. Chính sách khi có giặc thì đánh, khi nghỉ thì cho quân về làm ruộng, có từ thời nhà Đường; ở ta, các đời vua đều ít nhiều sử dụng, không phải do Bá Đa Lộc "dạy" như Faure viết, rồi những người sau chép lại.

Nguyễn Văn Tuấn - Một cõi đi về …


Mượn tựa đề của một bài hát của Trịnh Công Sơn để mô tả cảm giác của tôi về sự “qui cố hương” của Đại tá Lê Bá Hùng. Thật ra, nói “qui cố hương” là không đúng; anh ta chỉ viếng thăm chính thức thôi. Ngày rời quê mẹ là một cậu bé 5 tuổi, ngày trở về là một đại tá, chỉ huy cả hai chiếm hạm thuộc loại hiện đại nhất của hải quân Mĩ. Sự trở về của anh ta, một lần nữa, minh chứng cho câu nói bất hủ của ông Phạm Văn Đồng … quá bậy bạ. (Ông trả lời báo chí Tây và nói rằng những người vượt biên là “thành phần đĩ điếm, xì ke, trộm cướp chạy theo tàn dư Mỹ Nguỵ”). Dĩ nhiên, người di tản không phải là thành phần trộm cướp, mà thời đó là thành phần ưu tú của miền Nam Việt Nam. Họ là những người học hành đàng hoàng (không có bằng dỏm tràn lan như ngày nay), họ được đào tạo bài bản từ các nước tiên tiến hay ngay trong nước, họ là những chuyên gia rất tài giỏi của chế độ VNCH. Họ có thể không tốt trong việc đánh đấm ngoài chiến trường, nhưng họ là những người có học nghiêm chỉnh và có lòng nhân từ bác ái. Nếu có đi tị nạn thời đó và có dịp sống trong các trại tị nạn Đông Nam Á thời đó, các bạn thấy họ là những chuyên gia thứ thiệt, nói tiếng Anh không hề thua kém, thậm chí hơn hẳn, các quan chức Thái. Khi đến Thái Lan, họ rất dễ làm việc với người Mĩ và phương Tây vì cùng “bộ lạc” và nói cùng ngôn ngữ [tiếng Anh] nên rất dễ biết nhau.

Du Tử Lê - Ai là người đầu tiên xuất bản sách cách đây 40 năm?

Cách đây 40 năm, khi lớp người Việt tỵ nạn đầu tiên, như những chiếc lá lìa cành bị vung vãi khắp cùng nước Mỹ thì, bên cạnh nhu cầu âm nhạc, lớp người này cũng còn có nhu cầu đọc, thấy tiếng mẹ đẻ trên những trang sách - -Nhất là khi tập thể đó, chưa có một tờ báo nào, được phát hành rộng rãi như hiện tại.

Ông Ðỗ Ngọc Tùng (phải) và nhà báo Ngọc Hoài Phương. (Hình: NHP)
Trước khao khát tinh thần cháy bỏng này, người đầu tiên có sáng kiến in lại tất cả những đầu sách đủ loại - Từ ưu tiên tự điển hay sách học tiếng Anh, các loại sách phổ thông, giải trí như truyện chưởng, truyện dịch Quỳnh Giao, truyện của các tác giả miền Nam, không phân biệt giá trị, tên tuổi, tới những cuốn sách dạy về gia chánh, nấu ăn, v.v... cũng đã được khẩn cấp in lại, như một nỗ lực đáp ứng khoảng trống quá lớn trong đời sống tinh thần của người tỵ nạn hồi tháng 4, 1975.

Hiền Hòa - Tiểu thuyết quốc ngữ diễm tình đầu tiên của Việt Nam

Đầu tháng 10/2014, PGS - TS Võ Văn Nhơn (Đại học KHXH & NV TPHCM) đã tìm lại được bản in bộ tiểu thuyết vốn ra đời từ 100 năm trước - tác phẩm Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu (1879-1941) tại Thư viện Quốc gia Pháp.
Mới đây, ông đã hoàn tất việc khảo cứu để có thể dẫn đến kết luận: Đây là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, lại thuộc thể loại diễm tình.
Nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn trong chuyến đi làm việc ở Paris.
Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi với ông về bộ tiểu thuyết từng gây tranh cãi nảy lửa, làm hao tốn rất nhiều bút mực này.
 

Tìm kiếm

Đang tải...

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)

Góp ý

Giới thiệu