BS. Ngô Thế Vinh – Ngày Nước Thế Giới 2012 và An Ninh Lương Thực Lưu Vực Sông Mekong


BS. Ngô Thế Vinh
“Không phải chỉ có bảo vệ môi trường và số người phải di rời. Vấn đề lớn hơn thế rất nhiều. Đa số cư dân phụ thuộc vào nguồn cá từ các đoàn di ngư, do đó an ninh lương thực trong vùng là điều tối quan trọng cần lưu tâm khi khai thủy điện sông Mekong.” Eric Baran, WorldFish Centre.

“Nước là một trong những cơ hội lớn về ngoại giao và phát triển trong thời đại chúng ta. Không phải mỗi ngày chúng ta tìm được một vấn đề mà hiệu quả về ngoại giao và phát triển giúp cứu sống hàng triệu sinh mạng, cứu đói, tăng sức mạnh phụ nữ...Nước chính là chủ đề quan trọng đó.”  Hillary Rodham Clinton, World Water Day 2010.

Ngày Nước Thế Giới và những chủ đề

Cách đây 19 năm kể từ 1993, Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày 22 tháng 3 mỗi năm là Ngày Nước Thế Giới/World Water Day, do sáng kiến từ Hội nghị Môi Sinh và Phát Triển/United Nations Conference on Environment and Development/UNCED tại Rio de Janeiro, Brazil [1992].
Có thể nói, nước là biểu hiện của sự sống, vì thế mỗi khi tìm ra tín hiệu có nước trên một vì tinh tú xa xôi thì các nhà khoa học thiên văn đã lạc quan cho rằng có thể có sự sống và sinh vật ở trên đó. Trái đất này sẽ là một hành tinh chết nếu không có nước. Nhưng trước mắt, thì thiếu nước đang là một vấn nạn ngày càng trầm trọng của thế giới chúng ta đang sống hiện nay.
Ngày Nước Thế Giới, như cơ hội để mọi người quan tâm tới tầm quan trọng của nguồn nước ngọt/freshwater và cùng nhau vận động hỗ trợ cho những phương cách quản lý bền vững các nguồn nước ấy.
Mỗi năm Liên Hiệp Quốc đều chọn ra một “chủ đề” cho Ngày Nước Thế Giới để tập trung vận động qua những cuộc hội thảo, qua các phương tiện truyền thông và giáo dục xoay quanh mỗi chủ đề này.
Điểm qua các chủ đề ấy theo thứ tự thời gian: 
1994 Nước Nguồn Tài nguyên chúng ta cùng bảo vệ;
1995 Nước và Phụ nữ;
1996 Nước cho Các Đô thị thiếu khát;
1997 Nước Thế giới: Có đủ không?
1998 Nước Ngầm: Tài nguyên không thấy;
1999 Mọi Người sống Dưới nguồn;
2000 Nước cho Thế kỷ 21;
2001 Nước cho Sức khỏe;
2002 Nước cho Phát triển;
2003 Nước cho Tương lai;
2004 Nước và những Thảm họa;
2005 Nước cho Cuộc Sống;
2006 Nước và Văn Hóa;
2007 Nước Thiếu hụt trên Thế giới;
2008 Nước và Vệ sinh;
2009 Nước Xuyên các Quốc gia;
2010 Nước Sạch và Sức khỏe Thế giới;
2011 Nước cho các Đô thị… 

Ngày Nước Thế Giới Năm Nay 2012

Ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay với chủ đề “Nước và An ninh Lương thực/Water & Food Security”, do Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc điều hợp [Food and Agriculture Organization of the UN]. Với nhận định: hiện có 7 tỉ người phải nuôi ăn trên hành tinh này; dự trù thêm 2 tỉ người nữa vào năm 2050. Mỗi chúng ta uống từ 2 tới 4 lít nước mỗi ngày; phần lớn lượng nước “uống” ấy nằm sẵn trong thực phẩm mà chúng ta ăn: để sản xuất 1 kg thịt bò cần tới 15,000 lít nước, trong khi 1 kg ngũ cốc cần 1,500 lít nước, 1 kg rau trái chỉ cần 1,000 lít nước nghĩa là 15 lần ít hơn. Hiện trạng trên thế giới đã có “một tỉ người đói kinh niên/chronic hunger” và nguồn tài nguyên nước thì co cụm lại khắp nơi. Để đương đầu với tình trạng nổ bùng dân số, bảo đảm an ninh lương thực cho mọi người thì cần tới những hành động cụ thể như:
(1) Tiêu thụ sản phẩm cần ít nước;
(2) Giảm phí phạm lương thực: 30% lượng thực phẩm không bao giờ ăn tới, có nghĩa là mất một lượng nước lớn để sản xuất;
(3) Gia tăng lượng lương thực nhiều hơn, có phẩm chất hơn và tiêu thụ nước ít hơn;
(4) Theo một chế độ dinh dưỡng lành mạnh hơn, với ngũ cốc rau trái thay vì ăn nhiều thịt.
Tất cả những bước ấy, từ quá trình sản xuất tới tiêu thụ, làm thế nào để tiết kiệm nguồn nước và bảo đảm lương thực cho mọi người. “Nước và An ninh Lương thực” đó trọng điểm trong cuộc vận động nhân ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay.
world-water-day-2012-250.jpg
Logo World Water Day 2012, mang rất nhiều ý nghĩa với “Nhánh Lúa và Cá” cũng là hai biểu tượng cho nguồn lương thực của con Sông Mekong. Đã có có một nền “Văn minh Lúa Gạo và Cá” trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong/GMS và nền văn minh ấy đang lâm nguy.
José Graziano da Silva, tân giám đốc Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc [với nhiệm kỳ ba năm rưỡi 2012-2015] trong cuộc họp báo nhậm chức ở Rome ngày 3 tháng 01/2012 đã đưa ra một kế hoạch đầy tham vọng: hoàn toàn xóa nạn đói và suy dinh dưỡng trên toàn cầu. Ông phát biểu “Chấm dứt nạn đói đòi hỏi quyết tâm của mọi người: không phải chỉ có Tổ chức Lương Nông, hay bất cứ cơ quan, chánh phủ riêng lẻ nào mà có thể thắng được cuộc chiến này, mà phải cần tới những phương thức hành động thật sự “trong sáng và dân chủ/transparent and democratic way” cùng với các quốc gia thành viên, các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, khu vực tư nhân, xã hội dân sự và các nhóm đầu tư khác.” [1]
Người ta có thể thấy ngay là “phương thức hành động trong sáng và dân chủ” chính là điều rất thiếu vắng trong các quốc gia Mekong.
Cách đây hai năm, nhân Ngày Nước Thế Giới 2010 với chủ đề “Nước Sạch và Sức khỏe Thế giới”, Ngoại trưởng Hillary Roddham Clinton đã phát biểu: “Nước là một trong những cơ hội lớn về ngoại giao và phát triển trong thời đại chúng ta.”Bà Clinton nhận định tiếp, “Không phải mỗi ngày chúng ta tìm được một vấn đề mà hiệu quả về ngoại giao và phát triển giúp cứu sống hàng triệu sinh mạng, cứu đói, tăng sức mạnh phụ nữ, thăng tiến quyền lợi an ninh quốc gia chúng ta, bảo vệ môi trường, và cùng chứng tỏ với hàng tỉ người trên thế giới là nước Mỹ quan tâm tới sự an sinh của họ. Nước chính là nan đề đó.” [2]

Hệ sinh thái sông Mekong

Mekong được đánh giá là một trong những hệ thống sông rạch phức tạp nhất thế giới. Với chiều dài 4,900 km, là con sông dài thứ 11 của toàn cầu cũng là con sông dài nhất Đông Nam Á chảy qua 6 quốc gia, gần gấp hai chiều dài sông Colorado. Tài nguyên lưu vực con sông nuôi dưỡng 70 triệu cư dân, chỉ riêng nguồn cá đã đem lại hơn 2 tỉ MK mỗi năm.
Dòng chảy Mekong tương đương với lưu lượng con sông Mississippi với tẩm đẫm phù sa, rất biến thiên với hai mùa Mưa Nắng. Trong mùa Mưa chỉ có khoảng 16% lượng nước đổ xuống từ Vân Nam Trung Quốc. Nhưng trong những tháng mùa Khô, thì lượng nước thượng nguồn ấy lại tăng tới 40%. Do sự phức tạp của lưu vực sông Mekong, hiện tượng hạn hán và lũ lụt cũng rất biến thiên theo từng khúc đoạn từng vùng. [2]
Biển Hồ và sông Tonle Sap là một hiện tượng thiên nhiên kỳ diệu, với một chu kỳ gần như độc nhất vô nhị trên hành tinh này: Tonle Sap là con sông chảy hai chiều và diện tích Biển Hồ thì co dãn theo mùa. Là hồ cạn với diện tích 2,500 km2 trong mùa Khô, nhưng tới mùa Mưa, bắt đầu từ tháng 6 tháng 7, do nước con sông Mekong dâng cao tạo sức ép khiến con sông Tonle Sap phải đổi chiều; nước từ khúc sông Mekong thượng nguồn chảy ngược vào Biển Hồ khiến nước hồ dâng cao từ 8 tới 10 mét và tràn bờ, làm tăng diện tích Biển Hồ gấp 5 lần lớn hơn, khoảng 12,000 km2. Joseph Yun, phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao Đông Á và Thái Bình Dương đã đưa ra một so sánh rất tượng hình là lượng nước Biển Hồ ấy đủ để bao phủ toàn diện tích hơn 20 ngàn km2 của tiểu bang New Jersey với hơn 3 mét nước cao. [2]
khmer-girl-and-fish-200.jpg
Em Bé Khmer và Cá: 80% nguồn protein của người dân Cam Bốt là từ Cá. Photo by Ngô Thế Vinh, Tonle Sap 2001.
Do tiềm năng dự trữ nước rất lớn theo mùa, Biển Hồ có thể điều hòa lưu lượng con sông Mekong, giảm thiểu lũ lụt trong mùa Mưa, duy trì dòng chảy tối thiểu trong mùa Khô, đồng thời ngăn chặn nước biển không lấn sâu thêm vào vùng châu thổ.
Biển Hồ có một vai trò điều hợp sinh tử đối với hệ sinh thái vùng Hạ Lưu: không chỉ là vựa cá quan trọng nhất của Cam Bốt, mà nguồn nước ấy là thiết yếu cho vựa lúa cùng với kỹ nghệ nuôi cấy thủy sản như cá basa xuất khẩu của của Đồng Bằng Sông Cửu Long [ĐBSCL]. ĐBSCL không chỉ là cái nôi lúa gạo cho toàn Việt Nam, vốn cũng là quốc gia xuất cảng gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan. Theo Chương Trình Phát Triển của Liên Hiệp Quốc/United Nations Development Program thì tình trạng sản xuất lúa gạo ở Việt Nam năm 2010, đã bị ảnh hưởng nặng nề do thay đổi khí hậu và do các con đập thủy điện thượng nguồn.
Có thể nói Sông Mekong là “mạch sống – lifeline” của bao nhiêu triệu cư dân trong Lưu Vực. Nông và ngư nghiệp chiếm tới 85% lực lượng lao động: nông dân thì phụ thuộc vào nguồn nước và phù sa; ngư dân thì sống bằng nguồn cá thiên nhiên của con sông, cá không chỉ là nguồn protein động vật chính trong dinh dưỡng mà còn đem lại lợi tức đáng kể cho họ. Do đó nông và ngư dân Lưu Vực sông Mekong sẽ là những nạn nhân trực tiếp bị ảnh hưởng do bất cứ một thay đổi hủy hoại nào trong môi trường sống của họ.
Với thay đổi khí hậu, lưu vực sông Mekong sẽ là một trong những vùng chịu ảnh hưởng tác hại nhất, do đa số cư dân sống trên những cánh đồng lũ/floodplains và các vùng ven biển thấp [ĐBSCL]. Sự đa dạng sinh học của toàn vùng cũng bị đe dọa bởi những ảnh hưởng tích lũy trực tiếp hoặc gián tiếp do thay đổi khí hậu, cộng thêm với sự tác hại của những con đập thủy điện đầy những khiếm khuyết về phương diện kỹ thuật và đang phát triển vội vã như hiện nay.
hybrid-rice-250.jpg
Nhánh Lúa Lai Tạo/Hybrid Rice từ Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế IRRI, tăng năng xuất từ 1-1.5 tấn cao hơn cho mỗi hecta, là một đóng góp quan trọng cho phát triển nông nghiệp Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Trong khi không thiếu bài học về “những dòng sông chết trên thế giới” mà các nhà lãnh đạo sông Mekong không chịu học hay cố tình không biết – wilful ignorance, vẫn theo ngôn từ của Milton Osborne; điển hình như con sông quốc tế Indus cũng phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng dài 3,200 km chảy qua hai nước Ấn Độ và Pakistan, vốn một thời là con sông hùng vĩ từng là cái nôi của những nền văn minh, nay chỉ vì do xây quá nhiều đập/heavily dammed nên đã không còn đủ nước chảy ra tới biển Ả Rập/Arabian Sea. [4]
Trở lại với con sông Mekong, chỉ để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển, các quốc gia Mekong vội vã hướng tới khai thác nguồn thủy điện của con sông này. Điều mà họ ít quan tâm tới là khi xây các con đập trên dòng chính có thể gây tác hại tức thời và cả lâu dài tới “an ninh lương thực” của bao nhiêu triệu cư dân trong lưu vực.
Cái giá phải trả về kinh tế do các con đập gây ra rất cao, nhưng vì những hứa hẹn lợi nhuận to lớn trước mắt do thủy điện có thể đem lại; mỗi con đập cho dù lớn nhỏ đều có ảnh hưởng trên dòng chảy và sinh cảnh của con sông. Chỉ một con đập xây không đúng chỗ như con đập Don Sahong Nam Lào, có thể ngăn chặn các đoàn di ngư, ảnh hưởng trực tiếp trên nguồn cá cũng là nguồn protein chính của cư dân trong lưu vực. Hoặc một con đập thiết kế kém với nhiều khiếm khuyết như con đập Sambor phía Bắc Cam Bốt, có thể làm giảm nguồn nước ngọt, làm mất nguồn phù sa, tăng nạn nhiễm mặn và ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất lúa gạo không chỉ của Cam Bốt mà cả ĐBSCL của Việt Nam.
Với chuỗi đập bậc thềm Vân Nam/Lancang - Mekong Cascade nơi Lưu Vực Trên/Upper Mekong Basin chắc chắn có ảnh hưởng đáng kể trên dòng chảy thiên nhiên của con sông Mekong. Theo Fred Pearce, thì vào đầu thập niên tới, chuỗi đập Vân Nam sẽ có khả năng giữ lại hơn nửa lưu lượng dòng chảy của con sông Mekong trước khi ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc. Đối với Bắc Kinh, con sông Mekong đã trở thành “Tháp Nước và Nhà Máy Điện” của riêng họ. [6]
Nhưng chuỗi đập dòng chính nơi Lưu Vực Dưới/Lower Mekong Basin sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nhiều đối với các quốc gia hạ lưu, đặc biệt là với Biển Hồ của Cam Bốt và ĐBSCL của Việt Nam. Người ta đã nói tới những con đập dòng chính trên đất Lào, nhưng cũng đừng quên rằng ngay trên đất Cam Bốt đã có hai dự án Stung Streng 980 MW và Sambor 2,600 MW gây ảnh hưởng tác hại trực tiếp trên sản lượng cá của Biển Hồ và làm mất nguồn phù sa nơi ĐBSCL. Chấp nhận xây dựng hai con đập ấy ngay trên đất Chùa Tháp, Nam Vang như cầm súng tự bắn vào chân mình/shoot oneself in the foot, một thứ self-inflicted injury – và Việt Nam cũng không tránh được những tổn thất liên hệ/collateral damages.
Không thể phủ nhận thủy điện vẫn là nguồn năng lượng giá trị, nhưng chừng nào mà cái giá rất cao phải trả về môi sinh được lượng giá đúng mức và tiến hành một cách thận trọng và có trách nhiệm. Để có con đập thủy điện mới, có những cây cầu và đường xá mới không thể không đồng thời cũng phải đối chiếu với cái giá phải trả về môi trường và cả trên cuộc sống cư dân ra sao. Ví dụ như nước Lào, với nguồn thủy điện phong phú có thể xuất cảng để thu về ngoại tệ cho phát triển kinh tế, nhưng nếu không có những bước nghiên cứu thận trọng thì đó chỉ là bước phát triển rất ngắn hạn không bền vững với nhiều tổn thất trước mắt và lâu dài trên môi sinh và cuộc sống xã hội của chính những người dân Lào.

Sông Mekong đang chịu quá tải 

Hệ sinh thái sông Mekong hiện đã có những dấu hiệu bị quá tải. Không phải chỉ có tác hại từ các con đập thủy điện mà còn thêm những ảnh hưởng tích lũy do ô nhiễm từ kỹ nghệ, nước thải, và phân bón hóa học từ canh nông.
Duy trì phẩm chất nguồn nước con sông Mekong là yếu tố vô cùng quan trọng cho “sức khỏe và lương thực” của 70 triệu cư dân trong toàn lưu vực. Nạn nhiễm mặn ngày càng gia tăng nơi ĐBSCL, nhất là trong những tháng Mùa Khô giảm lưu lượng dòng chảy khiến nước biển lấn sâu thêm vào vùng châu thổ phá hại mùa màng; lại thêm tình trạng đất phèn/sulphate-rich soils làm tăng độ acid trong nước, gây bội phát lượng rong tảo trong nước/eutrophycation, làm giảm lượng oxygen có thể tới ngưỡng tử vong làm chết cá và các động vật dưới nước.
Nước từ thượng nguồn đã bị ô nhiễm cộng thêm với nạn ô nhiễm dưới nguồn khiến hệ sinh thái của con sông càng ngày càng suy thoái. Xả các chất phế thải, cả phóng uế xuống sông là điều vẫn diễn ra thường ngày nơi ĐBSCL. Các quốc gia Mekong trong đó có Việt Nam gần đây cũng bắt đầu đề cập tới nạn ô nhiễm nước, nhưng đa số chỉ như những khẩu hiệu và để rồi không có biện pháp chế tài hay theo dõi hiệu quả nào.

Cần sự chọn lựa khôn ngoan

000_Hkg5663239-250.jpg
Công trường xây dựng đập Xayaburi tại Lào hôm 03-06-2011. AFP PHOTO.
Hội Nghị cấp Bộ Trưởng 4 quốc gia Hạ Lưu Mekong tháng 12, 2011 đã có một quyết định là “tạm ngưng dự án đập thủy điện Xayaburi”, là con đập dòng chính đầu tiên trên sông Mekong bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc; để có thêm thời gian nghiên cứu về ảnh hưởng của con đập, và Nhật Bản được chính thức yêu cầu hỗ trợ cho cuộc khảo sát môi sinh này. Nhưng không có một dấu hiệu tích cực nào cho thấy chánh phủ Lào và tập đoàn kinh tài Thái Lan hoãn xây con đập ấy. Rõ ràng là tinh thần Hiệp Định Mekong theo điều 7 trong "Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong 1995" đang thực sự bị thử thách. [6]
Sự phong phú của hệ sinh thái sông Mekong chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon, Nam Mỹ nhưng lại có một khác biệt lớn là hai bên bờ sông Mekong có cư dân sống với mật độ cao. Eric Baran một chuyên gia của Trung Tâm Ngư Học Thế Giới/WorldFish Centre đã từng hỗ trợ Ủy Hội Sông Mekong khảo sát ảnh hưởng của các đập thủy điện trên hệ sinh thái sông Mekong, đã phát biểu: “An ninh Lương Thực phải là vấn đề cốt lõi nhất – the most critical issue.” Đã có 781 chủng loại cá được xác định, nhưng còn nhiều chủng loại cá khác chưa được biết tới, trung bình mỗi năm có thêm 28 chủng loại mới được phát hiện trong thập niên qua. Mỗi năm ngư dân Mekong lưới bắt được 2.1 triệu tấn cá [3 triệu tấn một năm theo MRC 09-2008], chiếm khoảng 1/6 lượng cá nước ngọt thế giới. [3]
Tiến sĩ Baran tiếp: “Kết hợp đặc tính của các đoàn di ngư và sự phụ thuộc của cư dân trên nguồn cá này là nét đặc thù duy nhất – unique, và “an ninh lương thực” trong lưu vực phải là mối quan tâm hàng đầu của các chánh phủ Mekong khi xây các con đập. Do đó không phải chỉ có bảo vệ môi trường và số người phải tái định cư, nhưng vấn đề lớn hơn rất nhiều. Khai thác thủy điện và an ninh lương thực trong lưu vực sông Mekong có lẽ là nét đặc thù duy nhất trên hành tinh này.”
Theo dự báo của MRC, thì tới năm 2030 với 88 con đập dòng chính và phụ lưu hoàn tất, sẽ có tới 81% các đoàn di ngư bị chăn lại, phải làm sao cùng với các bước phát triển xây đập mà vẫn bảo vệ được nguồn lương thực cho cư dân trong lưu vực. Do đó cần tới sự tái phối trí các dự án đập hiện nay, với nhận định rằng ảnh hưởng tác hại của các con đập thủy điện sẽ được giảm thiểu nếu là những con đập phụ lưu/tributary dams; hoặc nếu là đập dòng chính/mainstream dams thì nên là những con đập ở vị trí ở xa lên phía thượng nguồn.
Theo chiều hướng đó, không nhất thiết là phải ngưng tất cả các dự án đập thủy điện nhưng nhóm nghiên cứu của Baran đưa ra những đề nghị cụ thể: 
(1) Các con đập sẽ không cao hơn 30 mét để có thể vẫn mở những đường đi hiệu quả cho cá. [như chỉ riêng con đập Xayaburi cao 32 mét cũng đã ngăn chặn hơn 70 chủng loại di ngư].
(2) Nên xây đập trên những dòng chảy nhân tạo/man-made canals giống như ở Pháp và Âu châu, thay vì trên dòng chảy thiên nhiên, sẽ có tác dụng giảm hiểu tác hại tiêu cực trên dòng sông.
(3) Những con đập nên được thiết kế cho mục đích đa dụng – multi-purpose stuctures thay vì chỉ có sản xuất điện, nhằm giảm thiểu những tổn thất trên môi trường và xã hội. [3]

Tăng trưởng xanh lưu vực sông Mekong

gms-250.jpg
Các đại biểu đến từ Campuchia tham dự Hội nghị Thượng đỉnh các nước tiểu vùng Mekong mở rộng lần thứ 4 tại thủ đô Naypyitaw của Myanmar vào ngày 19 tháng 12 năm 2011. AFP photo.
Không phải là ngẫu nhiên, một Hội nghị 6 quốc gia trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong/Greater Mekong Subregion [GMS], còn có một tên gọi khác là Tiểu Vùng Sông Mekong bao gồm Cam Bốt, Lào, Thái Lan, Việt Nam, Miến Điện và Trung Quốc, và cơ quan tài trợ là Ngân Hàng Phát Triển Á Châu [ADB] đã diễn ra tại Bangkok trong hai ngày 20, 21 tháng 2, 2012 vừa qua.
Hội nghị Bangkok đã như một cộng hưởng chuẩn bị cho Ngày Nước Thế Giới 2012 vào tháng 3 sắp tới. Với nhận định: quản lý các nguồn lương thực, nước và năng lượng trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong là thử thách nghiêm trọng nhất trong thập niên tới đây. Tới năm 2030, nhu cầu lương thực của Lưu vực Lớn Sông Mekong gia tăng từ 20-50%, nhu cầu nước cho canh nông, cho phát triển năng lượng, cho gia dụng và kỹ nghệ cũng sẽ tăng theo cấp số nhân/exponentially increasing; trong khi nguồn nước trên mặt đất và nước ngầm/surface and ground water thì ngày càng cạn kiệt và suy thoái.
“Cân bằng Tăng trưởng Kinh tế và sự Bền vững Môi trường/Balancing Economic Growth and Environmental Sustainability” là chủ đề của của hội nghị với mục đích tìm ra một hướng đi tối ưu cho tăng trưởng kinh tế và bền vững môi trường. Điều ấy đòi hỏi những đầu tư khôn ngoan trong phát triển như: sử dụng nguồn năng lượng sạch, gia tăng trồng trọt với ít nước hơn, cải tiến kỹ thuật sinh học để giảm sử dụng phân bón hóa học, thu hoạch thêm lượng nước mưa/rain harvesting và tái tạo/recycling nguồn nước từ các trung tâm đô thị. [7]
Stephen P. Groff, Phó Chủ tịch Ngân Hàng Phát Triển Á Châu đã phát biểu: “Chúng ta cần phác thảo một lộ trình/roadmap tới năm 2020 nhằm hỗ trợ người nghèo/pro-poor, hỗ trợ môi trường/pro-environment. Thách đố là làm sao gia tăng hiệu quả xử dụng tài nguyên, phục hồi và tái đầu tư/restore and recapitalize các nguồn tài nguyên thiên nhiên ấy, đồng thời bảo vệ phẩm chất môi trường khi tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế.” 
Ông Dương Đức Ưng, từ Việt Nam đã cho RFA biết thêm một số thông tin từ hội nghị như: “Sự quan tâm không chỉ về an ninh lương thực mà cả an toàn thực phẩm phải gắn kết với nhau. Việt Nam hiện nay đã có an toàn lương thực cho mình rồi và xuất khẩu 7 triệu tấn lương thực ra thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan”. [8] Theo nhận định của người viết thì thành tích phô trương ấy của Việt Nam đã không có gì mới, nhưng câu hỏi được đặt ra là liệu sẽ bền vững được bao lâu và phía Việt Nam có sáng kiến đóng góp được gì cho tầm nhìn xa chiến lược “phát triển xanh bền vững” của toàn Lưu vực Lớn Sông Mekong trong đó có ĐBSCL.
ADB đã thông qua 50 dự án liên quan tới bền vững môi trường Lưu Vực Lớn Sông Mekong trị giá 4.8 tỉ MK. [7] Các nhà lãnh đạo GMS đã đồng thuận về một “chiến lược tăng trưởng xanh/green growth agenda” cho toàn vùng nhưng vấn đề vẫn là làm sao để theo dõi và thực thi một cách hiệu quả những cam kết ấy.

Cái giá quá đắt cho phát triển

Ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay với chủ đề “Nước và An ninh Lương thực” không chỉ là một thông điệp mỗi năm của Liên Hiệp Quốc gửi ra cho toàn cầu nhưng với khu vực Đông Nam Á – nơi đang có tranh chấp về quyền lợi khai thác con sông Mekong thì lại có ý nghĩa báo động nghiêm trọng hơn nhiều đối với nền an ninh toàn vùng.
Bước vào thế kỷ 21, có thể nói các quốc gia Mekong, trong đó có Việt Nam tuy được coi là những quốc gia đang phát triển, nhưng theo những bước không bền vững/non-sustainable development. Và cái giá cao nhất mà thế hệ hôm nay và cả tương lai phải trả là mất nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, mất “an ninh lương thực” đưa tới viễn ảnh nghèo khó và quan trọng hơn thế nữa là chính sức khỏe của người dân sẽ là cả một gánh nặng về y tế do không có an toàn thực phẩm, thêm nạn ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng nhất là về “nước và không khí”.
Ngô Thế Vinh, M.D.
California, 02/ 25/ 2012 

Tham Khảo:

1/ New FAO Chief moves on Global eradication of hunger, Support to poorest countries to be scaled up. Fao Media Centre; Rome 3 Jan, 2012http://www.fao.org/news/story/en/item/119343/icode/
2/ Testimony of Joseph Yun, Deputy Asst. Secretary Bureau of East Asian and Pacific Affairs US Department of State, Before the Senate Committee, Sept 23, 2010http://www.foreign.senate.gov/imo/media/doc/Yun.pdf
3/ Food security key issue in Mekong dam debate: Bangkok Post, Nov 12, 2011
http://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/270238/food-security-key-issue-in-mekong-dam-debate
4/ Empires of The Indus: The Story of A River; Alice Albina, W.W Norton & Company, Inc. First American Edition 2010
5/ The Damming of The Mekong: Major Blow to An Epic River, Fred Pearce, Yale Environment 360 Jun 17, 2009
6/ Hội Nghị Siem Reap Một Thỏa Hiệp Mong Manh Cho Dòng Chính Mekong Không Nghẽn Mạch; Ngô Thế Vinh, 12/25/2011http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/77#
7/ Green Development Key to Growth in Mekong Region; Bangkok, Thailand, 20 February 2012,http://beta.adb.org/news/green-development-key-growth-mekong-region
8/ Kế hoạch kinh tế và môi trường trong Tiểu vùng sông Mekong; RFA 02-22-2012;http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/key-to-grow-in-mekong-region-02222012061040.html

Read more »

Trangđài Glassey-Trầnguyễn - Con rối ‘xè’ ra hoa, Đổng Thị “Không Được Đầu!”

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

Cuối tháng Hai, 2012 vừa qua, Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ VAALA đã trình làng một chương trình Múa Rối & Hát Bội ngắn gọn nhưng đặc sắc.

Buổi trình diễn bao gồm 3 tiểu phẩm múa rối, và một trích đoạn của vở San Hậu. Cả hai chương trình đều do các học viên của Lớp Múa Rối và Câu Lạc Bộ Hát Bội VAALA thủ diễn. Lớp Múa Rối (được 1 tuổi) cho nghệ sĩ Trần Tường Nguyên hướng dẫn, và CLB Hát Bội (đã lên ba) do chính nghệ sĩ Ngọc Bày cưu mang. Cả hai lớp học đều miễn phí nhờ sự tài trợ của Kenneth Picerne Foundation tại Quận Cam. Trong lớp Hát Bội, Nghệ sĩ chi bảo Ngọc Bày hướng dẫn học viên từ cách hát, cử điệu, múa may, vẽ mặt, cho đến cách làm trang phục. Học viên Lớp Múa Rối được học những kỹ thuật căn bản, từ việc làm con rối, luyện giọng, viết kịch bản, và thực hiện tiểu phẩm của mình.


Diễn viên Catherine Thúy Ái đã mở đầu phần trình diễn Múa Rối, vì như Cô nói, “Mình có nhiều đồ đạc quá!” Đó là vì những gương, những lược, những phấn son, khi Cô ‘nhớ’ và ‘diễn’ lại giấc mơ làm minh tinh trong vở “Bébé” – dù bây giờ Cô đã là minh tinh nhiều kinh nghiệm. Chắc Cô thích đề tài này, vì giấc mơ thì lúc nào cũng đẹp và cho dù sao khi đã đạt được nó, cái giai đoạn ì ạch để thực hiện giấc mơ lúc nào cũng làm cho người ta nhớ và… yêu nó nhiều. Thúy Ái ‘khổ’ nhất là bị chai tay, vì chưa bao giờ cầm kim may vá, nhưng khi làm con rối, thì phải tự mình may mọi thứ từ đầu tới cuối.

Vivian Vũ, diễn viên Múa Rối thứ hai, vốn có mặt phụ diễn ngay từ màn đầu, đã trình bày tiểu phẩm “Rửa Chén,” vì như em nói, “Ở nhà, con hay rửa chén lắm! Mà con không đợi Mẹ nhắc đâu, lúc nào con cũng tự làm hết!” Chắc phụ huynh nào cũng muốn có một cô con gái vừa xinh, vừa ngoan, vừa chăm học và giỏi việc nhà như Vivian. Bé Vivian đã 13 tuổi, và học violin từ nhỏ. Nhưng nếu Vivian ham làm việc nhà, thì em trai của Vivian, bé Vincent Vũ, 10 tuổi, sẽ rất ham… nghịch và ham chơi! Đúng như cái tuổi của cu cậu. Vincent là học viên nhỏ tuổi nhất trong lớp, nhưng tiết mục của cậu không ‘nhỏ’ tí nào! Cậu diễn thật tự nhiên và thu hút, vì… chọn đúng đề tài! Đề tài đó là gì? Là “Một ngày trong đời sống của Vincent Vũ!” (Tựa này do tôi đặt, phỏng theo tên một tác phẩm trứ danh của Aleksandr Solzhenitsyn, “One Day in the Life of Ivan Denisovich”).


Vincent mất bốn tuần để làm con rối, như cậu bé than, “lâu dễ sợ luôn!” Con rối được treo ngay trên người của Vincent, nên những cử động của Vincent và con rối luôn luôn là một. Đây có lẽ là bí quyết thành công của Vincent. Con-rối-Vincent chơi banh, nhảy nhót, chạy chơi, lăn khì ra ngủ, mút tay, vv. Mà không sao không thấy con-rối-Vincent làm bài hay đi học nhỉ, vì con rối đã học lớp 5 rồi mà! Con-rối-Vincent thật hiếu động! Lúc nào cũng tung tăng, nghịch ngợm, thể hiện một sức khỏe tốt và một sự phát triển tối đa về mọi mặt. Không chỉ vậy! Con-rối-Vincent còn… làm ảo thuật, chỉ cần ‘xè’ vào một thùng giấy, thì có hoa đỏ rực ‘nở’ ra (do chị Vivian tội nghiệp của Vincent núp trong thùng đưa lên). Dám đi tè trên sân khấu, mà còn… hết sức tự tin, để nước tiểu của mình ‘nở’ ra hoa, thật là… ‘tuyệt chiêu’ của óc sáng tạo trẻ con!

Có lẽ sự khác biệt trong đề tài và cách thể hiện giữa hai tiểu phẩm của hai chị em cũng phản ánh sự khác biệt không chỉ về tuổi tác, mà còn về giới tính. Tôi không thể tưởng tượng việc Vivian ‘dám nghĩ’ đến chuyện ‘xè’ trên sân khấu như em mình. Tuy chưa bước vào tuổi trăng rằm và vẫn còn đang ‘sắp’ thành thiếu nữ, nhưng Vivian vẫn có sự kín đáo và e dè nhất định, không ‘linh tinh’ như Vincent. Và nữa, con gái trong các gia đình Việt có lẽ vẫn thạo và tham việc nhà hơn con trai. Liệu trong môi trường sống tại Mỹ, thông lệ này có thay đổi không? Tôi mong là có.


Phần trình diễn trích đoạn San Hậu thật ‘hiện đại’ và thật ‘hải ngoại.’ Tại sao một tuồng cổ lại được diễn ‘hiện đại’? Mà diễn ‘hải ngoại’ là diễn làm sao? Hiện đại vì Hát Bội được diễn với nhạc mp3 trên laptop! Và cũng hiện đại vì một lý do rất sâu xa mà tôi sẽ trình bày ở phía cuối. Còn ‘hải ngoại’ là vì sự thích ứng cao của nghệ sĩ, với những giới hạn về sân khấu, về không gian và điều kiện diễn xuất, về phục trang, vv. Điều này cho thấy sự cố gắng cao độ và lòng tận tụy với bộ môn nghệ thuật này của cả Nghệ sĩ Ngọc Bày lẫn các học viên, đã cùng nhau bảo tồn văn hóa Việt và đáp ứng nhu cầu thưởng thức môn nghệ thuật cổ truyền này của đồng bào hải ngoại. Cô Ngọc Bày cho biết, “CLB Hát Bội VAALA rất đắc show, đã được nhiều nơi mời diễn trong dịp Tết.” CLB lúc nào cũng chọn những vở tuồng Việt Nam, dù cái tên nghe có vẻ hơi Tàu, như “San Hậu” là một tích về Tả quân Lê Văn Duyệt.

Nghệ sĩ Ngọc Bày có giải thích rằng, tuy Hát Bội du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, nhưng đã được Việt hóa. Gọi là ‘hát,’ chứ không phải ca, vì khi diễn, phải hát len vào nhạc nền. Các điệu hát chính trong Hát Bội gồm có Hát Nam, hát khách, thán, óan, vân vân. CLB đã từng được mời diễn cho Hội Đền Hùng, lễ hội Bà Chúa Xứ Châu Đốc, các chương trình mừng Xuân, vân vân. Học viên cũng rất đa dạng, với cụ Nguyễn Đại Lý 74 tuổi là người thâm niên nhất. Và có cả học viên ‘đi máy bay’ để đến dự, như cô Nguyễn Xuân Hường, từ North Carolina!


Trong trích đoạn, nghệ sĩ chi bảo Ngọc Bày, trong vai Đổng Mẫu, đã cấm con về đầu quân với kẻ bắt mình để làm con tin. “Không được đầu! Không được đầu!” Bà thà chết, chứ không để con bất trung. Và câu hỏi mà Bà đặt ra, “Chữ Trung với chữ Hiếu, chữ nào trọng hơn?” có lẽ là một câu hỏi rất thật và rất gần cho nhiều người đấu tranh cho dân chủ hiện nay. Hai cái chữ này: làm sao cân, làm sao chọn? Mẹ bảo không được đầu, nhưng Tả quân Lê Văn Duyệt có cầm lòng nổi để nhìn Mẹ bị kẻ thù giết hại không?

Và phần diễn này hiện đại, vì nó làm tôi nghĩ đến một “Tả quân Lê Văn Duyệt” của thế kỷ 21 ngay tại Việt Nam. Vũ khí của Anh là lòng yêu nước. Mặt trận của Anh là dòng nhạc tự phát. Thân mẫu đã đến thăm anh nhiều lần khi Việt Khang bị bắt và giam tại số 4 Phan Đăng Lưu vì đã phổ biến hai bài hát yêu nước “Việt Nam tôi đâu?” và “Anh là ai?” Người Mẹ Mỹ Tho này, có lẽ cũng giống như Đổng Mẫu, ắt đã nhiều lần nói với con, “Không được đầu!” Nên Việt Khang mới viết những bài hát có sức mạnh lan truyền, thức tỉnh con tim của hàng triệu người Việt như Anh đã làm. Việt Khang đã chọn chữ Trung. Liệu Anh có băn khoăn, bối rối, cắn rứt khi thấy Mẹ phải cực nhọc vào tù thăm mình không? Có thể Anh cũng như Tả quân Lê Văn Duyệt, cũng xót xa, bất an khi thấy mẹ ruột của mình bị giày vò.


Và tôi nghĩ, chắc chắn phải nhờ có những Đổng Mẫu trong lịch sử Việt Nam, nên mới có những bà mẹ Mỹ Tho như thân mẫu của Việt Khang hôm nay. Tuy thân mẫu của Việt Khang không bị chính quyền đòi hành quyết, nhưng lưỡi dao sắc nhất đâm qua trái tim bà chính là hình ảnh người con trai của bà bị tù đày, bức bách. Trong hào khí chống Trung Quốc bành trướng tại quê nhà và hải ngoại, câu nói của Đổng Mẫu dường như được dành cho mỗi và mọi người dân còn giữ trong tim niềm yêu thương dòng máu da vàng và lòng yêu nước Việt Nam. “Không được đầu!”

Xin cám ơn Đổng Mẫu Ngọc Bày! Xin cảm ơn “Việt Khang Di Chí”!

Read more »

Phạm Thảo Nguyên - Đọc Thơ Đăng Bảo Đài Sơn của Vua Bụt Trần Nhân Tông

Phạm Thảo Nguyên

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau hai lần lãnh đạo quốc dân phá tan giặc Nguyên, lui về làm Thái Thượng Hoàng, nhừơng ngôi cho con là vua Anh Tông, tuy ngài còn giúp vua nhiều việc triều chính. Khi nhà Nguyên đã hết hẳn ý định xâm chiếm nước ta, ngài bỏ quyền thế nơi kinh thành, vào dẫy núi Yên Tử tỉnh Quảng Ninh, tu hạnh đầu đà tới đắc đạo. Ngài thành lập thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền thuần tuý Việt đầu tiên, trở thành Vua Bụt Sơ Tổ Trúc Lâm.


Ta hãy đọc bài thơ Đăng Bảo Đài Sơn của ngài dưới đây (theo bản của Hòa Thượng Thích Thanh Từ, trong Tam Tổ Trúc Lâm). Có thể nói bài này là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của thơ thiền Đại Việt.

登 寶 臺 山
地 僻 臺 逾 古 時 來 春 未 深
雲 山 襄 遠 近 花 逕 半 晴 陰
萬 事 水 流 水 百 年 心 語 心
倚 欗 橫 玉 笛 明 月 滿 胸 襟

Phiên âm: Đăng Bảo Đài Sơn

Địa tịch đài du cổ
Thời lai xuân vị thâm
Vân sơn tương viễn cận
Hoa kính bán tình âm
Vạn sự thuỷ lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm
Ỷ lan hoành ngọc địch
Minh nguyệt mãn hung khâm

Thơ dịch: Lên núi Bảo Đài

Đất hẹp đài cổ vượt lên
Theo mùa, xuân tiết mới nguyên vừa về
Ngõ hoa sáng, rợp hai bề
Mây vờn xa núi, mây kề cận bên
Việc đời nước chẩy, nước lên
Trăm năm lòng sáng biết thêm lòng tà
Tựa lan nâng sáo thổi ra
Đầy lòng đầy ngực ta là sáng trăng.

Bình chú:
僻 :tịch = eo hẹp
襄 : tương = giúp cho

Một đêm trăng sáng, trên ngọn Bảo Đài, trong dẫy núi Yên Tử, vua Bụt ngắm trăng, thổi sáo. Ngài viết bài thơ Lên Ngọn Bảo Đài, đẹp huyền diệu trong từng câu chữ:
Với trí tuệ của bậc liễu ngộ, mọi sự đều thấy theo nhiều khía cạnh khác nhau, diễn tả bằng hai lối nhìn đối kháng, không phiếm diện,một mặt:
Đài cổ trên đỉnh núi, vì ngọn núi thường ít đất nên trông như nổi cao hơn lên (so với chính nó)
Thời tiết luân chuyển mới vào đầu mùa xuân (vừa qua mùa đông)
Ngõ hoa có ánh trăng chiếu sáng là có bóng rợp đi theo.

Mây vờn quanh núi có lúc xa, mà cũng có lúc gần. Nói xa, gần là đối đãi, so sánh.

Mọi việc trên đời như dòng nước mới vừa trôi đi, là đã có nước khác tới. Cho nên không có hạnh phúc cũng như đau khổ dài lâu.

Trở lại tâm con người, vì có tâm thực nên mới biết có tâm vọng. Có lòng sáng, nên mới biết có lòng tà. Trăm năm cuộc đời tu chỗ đó.

Ngài nhìn chung quanh cảnh nào cũng nên thơ và đều thấm đẫm ý đạo, giúp thực chứng mà không cần đến ý niệm trừu tượng: Ta có thể tu bằng việc thực nghiệm cảm thọ trong cảm thọ. Bạn không tin ư? Xin đọc hai câu kết:
Hay thổi sáo lên đi ! Vừa thổi hết hơi ra là không khí, ánh trăng, ngoài kia tràn vào đầy lòng, phủ đầy ngực áo: Ta hoà mình vào cả vũ trụ mênh mông đầy ánh trăng đó.

Một hình tượng vô ngã vô cùng đẹp. Mà “Vô ngã là niết bàn”.

PTN

*Theo phong hoá Á Đông, nâng ngang sáo là để thổi. Cũng như người ta “Mời nâng ly” là mời uống rượu. Hơn nữa, vua Bụt là một vị Bụt, là người đắc đạo, người hằng giác, hằng sống trong chánh niệm, không bao giờ nâng sáo lên mà không thổi. Khi thổi sáo thì phải thổi ra rất mạnh thì sáo mới ngân lên tiếng nhạc. Hơi vừa thổi ra hết sức thì lập tức không khí được hút vào rất nhanh. Thổi sáo chính là thở ra thở vào khuếch đại.

Read more »

Thanh Tâm Tuyền - vang vang trời vào xuân


Thanh Tâm Tuyền


Mặt trời hồng như trăng
Thức lòng ta buổi sớm
Gió núi thổi rộn ràng
Gọi nghe biển dậy sóng

Đứng vững không khuỵu chân
Trên mảnh đất nghèo khổ
Thở hít tận vô cùng
Ngây say đóa hồng rợ

Vang vang trời vào xuân
Ta bật kêu mừng rỡ
Ơi bạn bè xa xăm
Tim ta cũng cháy đỏ
Rực thắm bóng trăng ngàn.

Read more »

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Buồn Vào Hồn Không Tên


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Có lần, tôi nghe giáo sư Nguyễn Văn Lục phàn nàn:
Người cộng sản có một sự sắp xếp rất máy móc, đơn giản về con người và sự việc. Hoặc họ coi là bạn, hoăc là kẻ thù của họ. Miền Nam sau 1975 có chiến dịch đi tìm thù và biến miền Nam thành mảnh đất hung bạo với những ngữ từ quen thuộc như: Quét sạch, đánh phá, truy lùng, tố cáo.

Nhạc sĩ Trúc Phương

Gần bốn mươi năm sau, sau cái chiến dịch “tìm thù” bắt đầu từ năm 1975, có bữa tôi đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc thì chuông điện thoại reo:
  • Tiến hả?
  • Dạ...
  • Vũ Đức Nghiêm đây...
  • Dạ...
  • Anh buồn quá Tiến ơi, mình đi uống cà phê chút chơi được không?
  • Dạ ...cũng được!
Tôi nhận lời sau một lúc tần ngần nên tuy miệng nói “được” mà cái giọng (nghe) không được gì cho lắm. Tôi cũng thuộc loại người không biết làm gì cho hết đời mình nên thường rảnh nhưng không rảnh (tới) cỡ như nhiều người trông đợi. Sống ở Mỹ, chớ đâu phải Mỹ Tho mà muốn đi đâu thì đi, và muốn đi giờ nào cũng được – mấy cha?

Khi Mai Thảo và Hoàng Anh Tuấn còn trên dương thế, thỉnh thoảng, tôi cũng vẫn nghe hai ông thở ra (“anh buồn quá Tiến ơi”) y chang như thế. Chỉ có điều khác là ông nhà văn khi buồn thì thích đi uống rượu, ông thi sĩ lúc buồn lại đòi đi ... ăn phở, còn bây giờ thì ông nhạc sĩ (lúc buồn) chỉ ưa nhâm nhi một tách cà phê nóng. Ai sao tui cũng chịu, miễn đến chỗ nào (cứ) có bia bọt chút đỉnh là được!

Vũ Đức Nghiêm sinh sau Mai Thảo và trước Hoàng Anh Tuấn. Ông chào đời vào năm 1930. Hơn 80 mùa xuân đã (vụt) trôi qua. Cả đống nước sông, nước suối – cùng với nước mưa và nước mắt – đã ào ạt (và xối xả) chẩy qua qua cầu, hay trôi qua cống. Những dịp đi chơi với ông (e) sẽ cũng không còn nhiều lắm nữa. Tôi chợt nghĩ như thế khi cho xe nổ máy.

Quán cà phê vắng tanh. Nhạc mở nhỏ xíu nhưng tôi vẫn nghe ra giai điệu của một bài hát rất quen:
Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương…

- Hình như là nhạc Vũ Đức Nghiêm ... Anh nghe xem có đúng không? Tôi đùa.
  • Em nói nghe cái gì?
  • Anh thử nghe nhạc coi...
  • Nhạc của ai?
Tôi chợt nhớ ra là ông anh đã hơi nặng tai nên gọi cô bé chạy bàn:
  • Cháu ơi, người ngồi trước mặt chúng ta là tác giả của bản nhạc Gọi Người Yêu Dấu mà mình đang nghe đó. Cháu mở máy lớn hơn chút xíu cho ổng... sướng nha!
Thấy người đối diện có vẻ bối rối vì cách nói vừa dài dòng, vừa hơi quá trịnh trọng của mình nên tôi cố thêm vào một câu tiếng Anh (vớt vát) nhưng ngó bộ cũng không có kết quả gì. Đúng lúc, chủ quán bước đến:
  • Cháu nó mới từ Việt Nam sang, ông nói tiếng Mỹ nó không hiểu đâu. Ông cần gì ạ?
- Dạ không, không có gì đâu. Never mind!

Tôi trả lời cho qua chuyện vì chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Cùng lúc, bản nhạc của Vũ Đức Nghiêm cũng vừa chấm dứt. Tôi nhìn anh nhún vai. Vũ Đức Nghiêm đáp lại bằng một nụ cười hiền lành và... ngơ ngác!

Tự nhiên, tôi thấy gần và thương quá cái vẻ ngơ ngác (trông đến tội ) của ông. Tôi cũng bị nhiều lúc ngơ ngác tương tự trong phần đời lưu lạc của mình. Bây giờ hẳn không còn ai, ở lứa tuổi hai mươi – dù trong hay ngoài nước – còn biết đến tiếng “Gọi Người Yêu Dấu” (ngập ngừng tha thiết bồn chồn”) của Vũ Đức Nghiêm nữa. Thời gian, như một giòng sông hững hờ, đã vô tình bỏ lại những bờ bến cũ.

Vũ Đức Nghiêm, tựa như một cây cổ thụ hiếm hoi, vẫn còn đứng lại bơ vơ bên bờ trong khi bao nhiêu nhạc sĩ cùng thời đều đã ra người thiên cổ. Trúc Phương là một trong những người này. Qua chương trình Bẩy Mươi Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam, nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam đã cho biết nhiều chi tiết vô cùng thê thiết về cuộc đời của người viết nhạc (chả may) này.

Trang sổ tay hôm nay, chúng tôi xin được nắn nót ghi lại đây những nhận xét của Hoài Nam, và mong được xem như một nén hương lòng (muộn màng) gửi đến một người đã khuất:
Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ gốc miền Nam được yêu mến nhất, từng được mệnh danh là ông vua của thể điệu Bolero tha thiết trữ tình. Ông tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, ra chào đời năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, tức Vĩnh Bình – một xứ Chùa Tháp thu nhỏ ở vùng hạ lưu sông Cửu Long...”

Nhạc của Trúc Phương thường buồn, rất buồn. Trong số những ca khúc của ông, hình như, chỉ có hai bản vui. Đó là: Tình Thắm Duyên Quê và Chiều Làng Em. Riêng bản Chiều Làng Em nói rằng vui là so sánh với những sáng tác khác của ông. Chứ thực ra, bản nhạc này tuy có nội dung êm đềm trong sáng nhưng giai điệu của nó cũng man mác buồn. Không hiểu vì cuộc đời của Trúc Phương vốn nhiều chuyện buồn và đã được ông gửi gấm vào dòng nhạc hay vì ông thích sáng tác nhạc buồn nên riết rồi nó ám vào người, chỉ biết những sáng tác phổ biến nhất, nổi tiếng nhất của ông đều là những ca khúc buồn: Chiều Cuối Tuần, Nửa Đêm Ngoài Phố, Tầu Đêm Năm Cũ, Bóng Nhỏ Đường Chiều ...”

Tháng 4 năm 1975, Trúc Phương bị kẹt lại. Năm 1979, ông vượt biên nhưng bị bắt và bị tù. Sau khi được thả, cuộc sống của ông trở nên vô cùng thê thảm về thể xác vật chất cũng như tinh thần. Trong một đoạn video phỏng vấn ông, được Trung Tâm Asia phổ biến tại hải ngoại, Trúc Phương cho biết:.
  Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,bèo dạt hoa trôi Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no…Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được…đến nữa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả. Tôi nghĩ ra được một cách… là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ… Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta..thế là mình lấy 1 đồng về….như là tiền thế chân…Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…Mà nói anh thương…khổ lắm….Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi ,tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải nằm thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát…mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn …Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…

Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư) nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài sau này (tiếc thay) không bao giờ đến – vẫn theo như lời của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:
Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao giờ thức dậy nữa. Ông đã vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân. Thế nhưng xét về mặt tinh thần Trúc Phương đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá.”

Chúng ta ở đây là những người yêu nhạc, trong nước cũng như hải ngoại, bên này cũng như bên kia chiến tuyến. Bởi vì hơn ba mươi ca khúc nổi tiếng của ông cho dù có một hai bài có nhắc đến chữ ‘cộng hoà’ vẫn phải được xem là những tình khúc viết cho những con người không phải cho một chế độ chính trị nào. Những con người sinh ra và lớn lên trong một cuộc chiến không lối thoát với niềm khắc khoải chờ mong một ngày thanh bình . Cuối cùng thanh bình đã tới nhưng không phải là thứ thanh bình mà những ‘con tim chân chính’ trong nhạc của Lê Minh Bằng hằng mơ ước mà là thứ thanh bình của giai cấp thống trị, của một thiểu số may mắn nào đó. Chính cái thanh bình ấy đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng trong đó có người Việt Nam xấu số đáng thương tên Nguyễn Thiện Lộc, tức nhạc sĩ Trúc Phương nổi tiếng của chúng ta.”

Thôi thì cũng xong một kiếp người! Và dòng đời, tất nhiên, vẫn cứ lạnh lùng và mải miết trôi. Sáng nay, tôi lại chợt nhớ đến Trúc Phương sau khi tình cờ đọc được một mẩu tin ngăn ngắn – trên báo Pháp Luật số ra ngày 1 tháng 2 năm 2012:
Ngày 31-1, một số cán bộ hưu trí, người dân ở phường Bình Hưng Hòa B (quận Bình Tân, TP.HCM) bức xúc phản ánh cuộc họp mặt đầu năm do phường tổ chức ... Ngay phần khai mạc lúc gần 9 giờ sáng, trên nền nhạc hip hop, hai phụ nữ ăn mặc hở hang, thiếu vải lên nhún nhảy, múa những động tác khêu gợi. Hai thanh niên múa phụ họa. Quan sát đoạn video chúng tôi thấy nhiều cán bộ hào hứng xem tiết mục lạ mắt này. Có cán bộ còn dùng điện thoại quay lại cảnh hai cô gái biểu diễn, ưỡn người và ngực về phía khán giả. Nhiều người tham gia rất hào hứng, chỉ trỏ, thì thầm vào tai nhau...
Chúng tôi tiếp tục liên lạc với bà Nguyễn Thị Bích Tuyền, Phó Chủ tịch phường kiêm Chủ tịch Công đoàn phường ... bà Tuyền lý giải: Tiết mục múa chỉ diễn ra gần 3 phút và đây là vũ điệu theo phong cách Hawaii nên hơi lạ...”

Nếu ngay sau khi chiếm được miền Nam mà qúi vị cán bộ cộng sản cũng có được cách “lý giải” tương tự thì thì Mai Thảo, Hoàng Anh Tuấn ... đã không phải bỏ thân nơi đất lạ. Vũ Đức Nghiêm cũng đã tránh được những giây phút bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng ở xứ người. Và Trúc Phương thì chắc chắn vẫn sẽ còn ở lại với chúng ta, vẫn có những đêm khắc khoải buồn vào hồn không tên, thay vì nằm chết cong queo trong đói lạnh – trên một manh chiếu rách – với tài sản duy nhất còn lại chỉ là một đôi dép nhựa.

Mọi cuộc cách mạng luôn luôn có cái giá riêng của nó. Riêng cái thứ cách mạng (thổ tả) của những người cộng sản Việt Nam thì đòi hỏi mọi người đều phải trả cái giá (hơi) quá mắc mà thành quả – xem ra – không có gì, ngoài tội ác!
Tưởng Năng Tiến


Read more »

Triễn Lãm Hội Họa: Họa sĩ Ann Phong và Lorri Lipsman




Cuộc triển lãm gồm 2 họa sĩ:
 Ann Phong và Lori Lipsman.
Được tổ chức tại LA ARTCORE Gallery.
Địa chỉ: 120 Judge John Aiso St. Los Angeles, CA 90012.
Ngày khai mạc: Chủ Nhật March 4, 2012. Từ 3 giờ đến 5 giờ chiều.

Ngày mở cửa: March 1 - March 29, 2012.
Từ thứ Tư đến Chủ Nhật, 12 giờ trưa - 5 giờ chiều. Phone# 213 617 3274
(LA ARTCORE nằm trong vùng Little Tokyo, gần góc đường số 1 và San Pedro).

Tiểu sử Ann Phong:
Ann Phong sinh tại Sài Gòn, Việt Nam; vượt biên năm 1981, định cư tại miền nam California năm 1982.
Năm 1995, cô tốt nghiệp Cao Học Mỹ Thuật (MFA) tại Đại Học California State ở Fullerton. Ann Phong đã tham dự hơn 60 cuộc triển lãm cá nhân và nhóm ở nhiều phòng tranh và viện bảo tàng. Tác phẩm của cô đã được trưng bày ở Los Angeles, Quận Cam, San Jose, Oakland, San Francisco, Houston, Pennsylvania, Vancouver, Paris, Thái Lan, và Nhật Bản. Một số tranh của Ann Phong được những nhà sưu tầm tranh tư nhân và những phòng tranh công cộng lưu trữ như tại The Queen Gallery, Bangkok Thái Lan; tại đại học Cal Poly Pomona và Cal State University Fullerton.

Từ năm 2007, ban chấm thi của Hội Đồng Giáo Dục Đại Học Mỹ (College Board of Education) mời họa sĩ Ann Phong cộng tác trong cương vị một giám khảo cho các ứng viên thi lấy bằng giảng dạy (Teaching Credential Program) và cho các em trung học trong trương trình thi AP Studio Art.

Ann Phong hiện đang dạy hội họa tại Cal State University Pomona, và cô đang là Chủ tịch hội đồng quản Trị của VAALA (Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ, trụ sở tại Quận Cam, miền nam Cali), niên khóa 2010. Cô đã từng diễn thuyết tại nhiều trường trung học, đại học, phòng triển lãm, và viện bảo tàng về tác phẩm của mình và tác phẩm của những nghệ sĩ Mỹ gốc Việt khác.

Website: http://annphongart.com

Read more »

Ban Chủ Trương:
Nguyễn Minh Cần, Song Chi, Đinh Xuân Quân, Phạm Phú Minh,
Vũ Quí Hạo Nhiên, Đỗ Quý Toàn, Trần Mộng Tú.
Bài vở cộng tác, xin gởi về địa chỉ email:
info.theky21@gmail.com
hoặc liên lạc điện thoại: 714-839-8746